Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Kinh tế
Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
5/5 (2 đánh giá) 1 bình luận

Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1. Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là quy luật kinh tế cơ bản, quan điểm về cạnh tranh rất rộng ,nhưng hiện nay chưa có quan điểm thống nhất. Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Cac-Mac cho rằng cạnh tranh là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa dựa theo chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất , nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất gây ra cạnh tranh, theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, các nhà tư bản đưa ra những biện pháp sử dụng để cạnh  tranh là thường xuyên cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động , để thu lợi nhuận siêu ngạch.

 Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Tham khảo thêm các bài viết sau:

+ Cạnh tranh là gì

+ Khái niệm hiệu quả kinh tế

Như vậy, ông có cái nhìn cạnh tranh dưới góc độ khá tiêu cực, cạnh tranh không bình đẳng, nếu một bên có lợi thì bên kia chịu thiệt. Tuy nhiên ông cũng nói lên vai trò của cạnh tranh là đổi mới sản xuất , phát triển kinh tế thông qua nỗ lực cạnh tranh của các nhà tư bản.

Lý thuyết cạnh tranh cổ điển đã có những đóng góp nhất định cho việc ra đời lý thuyết cạnh tranh hiện đại sau này. Theo lý thuyết cạnh tranh hiện đại,  cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất và người tiêu dùng) để nắm lấy vị thế tương đối trong sản xuất và tiêu thụ , hay tiêu dùng nhằm thu lợi ích nhiều nhất cho mình. Đối với các nhà sản xuất thì mục tiêu của sự ganh đua là giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, nắm được những điều kiện sản xuất và khu vực thị trường có lợi nhất.

Còn đối với người tiêu dùng mục tiêu của họ là dùng lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi, như thế, cuộc cạnh tranh  thị trường không giống cuộc chiến. Các đối thủ cạnh tranh có thể cùng chia sẻ lợi ích và nếu doanh nghiệp không thể thỏa mãn khách hàng tốt hơn thì có thể rút lui khỏi thị trường một cách tự nguyện chứ không phải do đối thủ “cá lớn” làm phương hại.

Quan điểm hiện đại có cách tiếp cận đúng đắn được nhiều doanh nghiệp, quốc gia sử dụng, có thể thấy cạnh tranh giữa các nhà sản xuất là cạnh tranh khốc liệt nhất, bất kì doanh nghiệp nào khi tham gia đều phải đối mặt với cạnh tranh để tồn tại và thu lợi nhuận cao và để có thể phát triển một cách bền vững; Như vậy, cạnh tranh có tác động thúc đẩy sản xuất, là động lực để tăng trưởng kinh tế.

Trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh ,buộc các doanh nghiệp phải kết hợp và thực hiện tốt lợi ích của mình và lợi ích của khách hàng, lợi ích của cộng đồng, lợi ích của xã hội, chính vì vậy, nền kinh tế không ngừng được đổi mới, phát triển, nâng cao mức sống cho người dân. Mặt khác,các doanh nghiệp muốn có vị thế cao trên thị trường, phải nhạy bén hơn, nắm bắt tốt nhu cầu khách hàng hơn các đối thủ cạnh tranh, chính vì vậy mà các doanh nghiệp không ngừng cải tiến kĩ thuật, hoàn thiện về bộ máy quản lý để nâng cao năng suất nhằm tạo ra những sản phẩm giá rẻ hơn, đẹp hơn, chất lượng hơn, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, các doanh nghiệp thành công thì ngày càng thu hút được nhiều khách hàng, thu lợi nhuận nhiều.

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ làm đồ án thuê tại Hà Nội, Hồ Chí Minh,... để giúp mình xóa bỏ những rắc rối về lỗi gây ra khi không sử dụng thành thạo phần mềm này?

Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay đồ án, khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh cuẩ doanh nghiệp được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ...

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của các doanh nghiệp khác ,hay theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất  lao động.

Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm” cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế .

Như vậy, quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chưa được thống nhất, vấn đề là phải tìm được một khái niệm phù hợp cả về điều kiện , bối cảnh, trình độ phát triển của từng thời kỳ, thể hiện được phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đối phó được nhưng tình huống bất lợi nhất chứ không chỉ dựa vào lợi thế so sánh.

Có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là : ‘’khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm , mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững’’ .

Qua khái niệm trên có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không phải là một chỉ tiêu đơn thuần mà mang tính tổng hợp của nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp hay cho từng doanh nghiệp, tuy nhiên để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì cẩn phải xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

3. Một số hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Kể từ năm 1986, với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó thừa nhận sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân. Những thành công trong sự phát triển của nền kinh tế, trong đó có việc đưa Việt Nam ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp, trở thành nước có thu nhập trung bình, có sự đóng góp rất quan trọng của khu vực kinh tế này. Tuy nhiên, về sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, nhất là vấn đề năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu còn một số vấn đề cần được lưu ý như sau:

Việt Nam đã thành công trong việc phát triển các mối liên kết xuôi trong chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng mối liên kết ngược lại kém phát triển. Trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang lắp ráp, sản xuất những sản phẩm tương đối cao cấp cho thị trường quốc tế thì hầu hết các doanh nghiệp trong nước vẫn hướng về thị trường nội địa hoặc chỉ xuất khẩu hàng hóa có giá trị gia tăng thấp. Trên thực tế, Việt Nam nhập khẩu khoảng 90% giá trị xuất khẩu và phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu(1).

Tập trung gia tăng số lượng doanh nghiệp mới, bỏ lỡ cơ hội tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp đang hoạt động, vì thế chưa tận dụng được cơ hội của thương mại từ chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện tại, trong số gần 477.808 doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam (số liệu tính đến ngày 31/12/2016), doanh nghiệp có quy mô lớn chỉ chiếm khoảng 3%, còn lại 97% là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, trong số đó gần 60% số doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ. Do quy mô nhỏ nên rất nhiều doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực cạnh tranh để xuất khẩu sang thị trường nước ngoài hoặc tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.

Doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong việc di chuyển lên chuỗi giá trị nên đã tạo ra hai tầng doanh nghiệp hoạt động tách biệt(doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI). Nói cách khác, do thiếu vắng các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nên chuỗi cung ứng ở Việt Nam đã bị phá vỡ và phân khúc. Không giống Trung Quốc hay Ấn Độ, thị trường nội địa của Việt Nam chưa đủ lớn để hấp dẫn đầu tư, vì thế nên đặt mục tiêu thu hút các doanh nghiệp FDI đang tìm kiếm trung tâm sản xuất cho cả khu vực, bên cạnh đó, cần có các doanh nghiệp mạnh trong ngành công nghiệp hỗ trợ để thu hút các nhà đầu tư.

Sự tham gia trong mạng lưới sản xuất chuỗi giá trị toàn cầu còn thấp so với các nền kinh tế có quy mô tương tự trong khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu của Học viện Ngân hàng phát triển châu Á (ADBI) cho thấy, chỉ có 36% số doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạng lưới sản xuất (bao gồm cả xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp) so với con số 60% tại những nền kinh tế phát triển hơn, như Ma-lai-xi-a, Thái Lan; 21% số doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tham gia chuỗi giá trị toàn cầu so với 30% của Thái Lan, 46% của Ma-lai-xi-a. Điều này cho thấy, chuỗi cung ứng ở các nền kinh tế Thái Lan, Ma-lai-xi-a ít bị phân tán và DNNVV có nhiều khả năng được hưởng lợi hơn từ hiệu ứng lan tỏa của vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất.

4. Phân tích 5 năng lực cạnh tranh trong một ngành

Tình hình năng lực cạnh tranh trong một ngành – gồm một nhóm công ty sản xuất những sản phẩm giống nhau hay thay thế cho nhau một cách dễ dàng – phụ thuộc vào 5 yếu tố cơ bản. Sức mạnh của 5 lực cạnh tranh này sẽ quyết định lợi nhuận tiềm năng của các công ty trong ngành.

1/ Nguy cơ có đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường:Những doanh nghiệp mới gia nhập một ngành sẽ mang theo những nguồn lực mới, tạo áp lực cạnh tranh, và thường làm giảm lợi nhuận ngành. Mối nguy cơ có đối thủ gia nhập mới trong một ngành phụ thuộc vào hàng rào chống gia nhập, cùng với những phản ứng chống gia nhập – có thể dự đoán được – từ những công ty hiện hữu.

2/ Có 6 hàng rào chống gia nhập chính: Lợi thế nhờ quy mô kinh tế, những sự khác biệt về sản phẩm, yêu cầu về vốn, chi phí chuyển đổi của khách hàng, sự tiếp cận các kênh phân phối. Nếu hàng rào chống gia nhập lớn, và các công ty trong ngành phản ứng mạnh mẽ, nguy cơ có đối thủ gia nhập ngành sẽ thấp.

3/ Cạnh tranh từ các công ty hiện hữu trong ngành: Cạnh tranh trong ngành xảy ra vì một trong nhiều đối thủ trong ngành hoặc cảm thấy áp lực, đe dọa từ các đối thủ khác, hoặc nhìn thấy cơ hội để cải tiến vị trí của mình. Những hình thức cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành như: giảm giá, chiến tranh về quảng cáo, giới thiệu sản phẩm mới, tăng quyền lợi cho khách hàng.

4/ Cường độ cạnh tranh trong một ngành là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau:Quá nhiều đối thủ cạnh tranh hay tình trạng cân bằng nhau, tăng trưởng trong ngành chậm, chi phí cố định của sản phẩm cao, thiếu sự khác biệt về sản phẩm, sự chuyển đổi của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào giá và dịch vụ, yêu cầu tăng công suất để đạt quy mô kinh tế, quyền lợi chiến lược dành cho những người đứng đầu, hàng rào ngăn cản rút lui cao.

5/ Nguy cơ đến từ sản phẩm hay dịch vụ thay thế: Tất cả các công ty trong một ngành không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với tất cả những công ty trong các ngành sản xuất những sản phẩm thay thế. 

Các tìm kiếm liên quan khác: năng lực cạnh tranh là gì, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh, khái niệm năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc điểm của năng lực cạnh tranh, phân tích năng lực cạnh tranh, cạnh tranh là gì, vai trò của cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, định nghĩa cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh, ...

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

KKhánh Quỳnh

Em đang làm đề tài "Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp". Ah/chị có tài liệu nào tương tự k cho e xin mẫu tham khảo với ạ.

Trả lời3 months ago

Thông tin bình luận

Zalo: 096.999.1080