Ngân hàng thương mại và quản trị rủi ro trong kinh doanh NHTM theo hiệp ước Basel

Tran Ha
Ngân hàng thương mại và quản trị rủi ro trong kinh doanh NHTM theo hiệp ước Basel
Đánh giá bài viết

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Mục Lục

1. Ngân hàng thương mại

1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế. Nó đặc biệt vì nhiều lý do khác nhau, nhưng lý do quan trọng nhất là loại hàng hoá chủ yếu mà ngân hàng kinh doanh là loại hàng hoá đặc biệt: tiền tệ. Trong ngôn ngữ các nước phương Tây, từ Banque trong tiếng Pháp cổ và Banca trong tiếng Ý có nghĩa là “cái ghế dài” hay “bàn của người đổi tiền”, dùng để chỉ nơi để đổi tiền, thường có bàn đổi tiền và ghế cho khách hàng ngồi trong cửa hiệu tại các trung tâm thương mại (trích dẫn Nguyễn Văn Tiến 2005). Trong nghĩa Hán Việt, bản thân từ “Ngân hàng” cũng đã nói lên một cách rõ ràng loại hàng hoá mà loại hình tổ chức này kinh doanh là tiền tệ (ngân).

Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng được gọi là một loại trung gian tài chính theo nghĩa là đơn vị chuyển những khoản tiết kiệm của tổ chức, cá nhân (có tiền nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian gửi vào ngân hàng để sinh lời hoặc vì mục đích an toàn hoặc để sử dụng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng khác) sang cho các cá nhân, đơn vị cần tiền để hoạt động.

Ở mỗi quốc gia lại có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại. Ở Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà hoạt động thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Ấn Độ, ngân hàng thương mại được định nghĩa là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.

Tại Việt Nam, trong nỗ lực xây dựng một khuôn khổ chung cho quản trị hoạt động ngân hàng thương mại, ngày 16/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 với nền tảng dựa trên Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP. Luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011.

Luật quy định rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân khác với mục đích phát triển kinh tế xã hội.

Ngân hàng thương mại và quản trị rủi ro trong kinh doanh NHTM theo hiệp ước Basel

Ngân hàng thương mại và quản trị rủi ro trong kinh doanh NHTM theo hiệp ước Basel

1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại

Tùy vào luật pháp của từng quốc gia và theo từng thời kỳ, ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích chủ yếu là tạo ra lợi nhuận. Một cách tổng quát, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là việc cung cấp các “dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về tài chính của khách hàng” gồm: Dịch vụ tiền gửi và tiết kiệm; Cho vay và đầu tư dự án; Dịch vụ chuyển tiền và thanh toán; Các dịch vụ tài chính và tư vấn; Các dịch vụ ngân hàng quốc tế (trích dẫn Nguyễn Văn Tiến 2005).

Với các loại hình hoạt động kinh doanh này, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản:

1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng:

Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian trong

việc tập trung, huy động các nguồn tiền tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế, bao gồm: tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế; biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng), đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của xã hội.

Thực tế, trong nền kinh tế luôn tồn tại tình trạng, tại một thời điểm, có một số lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể chưa cần dùng đến, mặt khác lại có một số lượng chủ thể khác tạm thời thiếu vốn để hoạt động, kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Để giải quyết tình trạng này, ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian, là nhịp cầu nối liền chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trong nền kinh tế lại với nhau.

Có thể nói, ngân hàng là một đơn vị kinh doanh sản phẩm là đồng vốn. Ngân hàng vừa là nơi “cung cấp” đồng thời cũng là nơi “tiêu thụ” đồng vốn của khách hàng. Tất cả những hoạt động “mua, bán” này thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ ngân hàng từ truyền thống đến hiện đại. Chính nhờ các nghiệp vụ đa dạng do ngân hàng cung cấp mà nhiều nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng hiện đại ra đời, phát triển và gắn với chức năng trung gian tín dụng.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại đã góp phần khắc phục các hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu tiền tệ bổ sung. Với chức năng này, ngân hàng thương mại làm trung gian chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu cho các chủ thể tham gia không có mối liên hệ trực tiếp với nhau, và điều này có vai trò to lớn đối với nền kinh tế, cụ thể:

Một mặt, ngân hàng tập trung hầu hết những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và biến nó từ chỗ là phương tiện tích lũy thành nguồn vốn lớn cho nền kinh tế. Mặt khác, sử dụng nguồn vốn này cung ứng cho nền kinh tế sẽ giúp dòng vốn được luân chuyển nhiều lần, tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Chức năng trung gian tín dụng được hình thành ngay từ lúc các ngân hàng thương mại hình thành. Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống xã hội.

1.2.2  Chức năng trung gian thanh toán và quản lý phương tiện thanh toán:

NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán để thực hiện các giao dịch giữa người mua với người bán, giữa các khách hàng với nhau nhằm hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại của các đối tượng nêu trên.

Xuất phát từ chức năng giữ tiền giúp các cá nhân, các doanh nghiệp, ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Các NHTM thực hiện nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền hàng hóa và dịch vụ cho các cá nhân, doanh nghiệp theo lệnh của chủ tài khoản. Khách hàng sẽ mở tài khoản tại các NHTM và ra lệnh cho ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc ủy nhiệm cho ngân hàng thu các khoản phải trả từ người mua. Như vậy, các cá nhân, doanh nghiệp không phải thực hiện các công việc mất nhiều thời gian và công sức mà vẫn không đảm bảo an toàn như đếm tiền, nhận tiền,… trong quá trình thanh toán với các đối tác trong nền kinh tế.

Chức năng làm trung gian thanh toán của NHTM ngày nay, không chỉ đơn thuần và mang tính truyền thống như trước, mà cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại đã tạo điều kiện cho các NHTM thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử trực tuyến với nhau nhanh chóng và chính xác hơn, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, thúc đẩy luân chuyển vốn và quá trình lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển.

Đối với khách hàng thuộc các tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một sổ tài khoản để thuận lợi việc chi trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lợi khác như các chương trình khuyến mại về phí dịch vụ, liên kết thanh toán,…

1.2.3 Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng:

Nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng. Do vậy, ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, NHTM còn thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng, với những ưu thế của mình như hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp trong và ngoài nước, mối quan hệ với các khách hàng, hệ thống trang thiết bị thông tin hiện đại về kho quỹ,… nên có thể cung cấp các dịch vụ ngày càng đa dạng cho khách hàng như tư vấn tài chính, đầu tư, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu đảm bảo hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí, dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản an toàn vật có giá, lưu trữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán, chuyển lãi đó vào tài khoản cho khách hàng,… từ đó hỗ trợ NHTM thực hiện tốt hơn hai chức năng nêu trên.

2. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM

2.1. Khái niệm rủi ro

Có nhiều định nghĩa về rủi ro khác nhau. Đồng thời với nó có nhiều cách phân loại rủi ro khác nhau. Thuật ngữ “rủi ro” (risk) trong kinh tế học và kinh doanh đã được đưa ra từ lâu nhưng cho đến gần đây, với sự phát triển của ngành khoa học kinh tế lượng và các môn giúp lượng hoá các biến ngẫu nhiên trong hoạt động kinh tế và kinh doanh, “rủi ro” mới trở thành một đối tượng của nghiên cứu và kinh doanh.

Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những vận động không lường trước được của sự vật, hiện tượng và nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Tính “không lường trước được” có thể theo nghĩa khả năng xảy ra, diễn biến và mức độ. Rủi ro thường gắn với tổn thất.

Theo quan điểm trung hòa, rủi ro là sự bất trắc không thể đo lường được. Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những cơ hội nhất định. Nếu nghiên cứu, nhận dạng, đo lường và quản trị rủi ro, con người không chỉ tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, né tránh rủi ro thuần túy, hạn chế thiệt hại do rủi ro gây ra mà còn có thể tận dụng được những lợi thế mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai.

Có hai cách phân loại rủi ro:

Căn cứ vào tính chất, có hai loại rủi ro:

Rủi ro tĩnh: là những rủi ro mà kết quả của nó chỉ có sự xuất hiện tổn thất, chứ không có khả năng sinh lời và không chịu tác động của những thay đổi trong nền kinh tế. Những rủi ro này chỉ liên quan đến các đối tượng như: tài sản, con người, trách nhiệm nhân sự.

Rủi ro động: là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi, đặc biệt là những thay đổi trong nền kinh tế. Đó là những thay đổi mà kết quả của nó có thể có lợi nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất. Ví dụ như sự thay đổi trong thị hiếu khách hàng có phù hợp với sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của ngân hàng hay không,…

Căn cứ vào cách thức, có hai loại rủi ro:

Rủi ro thuần túy: tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội sinh lợi được. Nói cách khác, rủi ro thuần túy là những rủi ro mà bản thân nó chỉ có khả năng gây ra những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, như hỏa hoạn, mất cắp, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…và nó làm phát sinh một khoản chi phí (để bù đắp thiệt hại) nên cần có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế.

Rủi ro suy đoán (rủi ro mang tính đầu cơ): là rủi ro mà trong đó những cơ

hội tạo ra thuận lợi gắn liền với những nguy cơ gây ra tổn thất, loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh và có tính hấp dẫn cao.

>>> Xem thêm các bài viết khác: Lý luận chung về xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng

2.2. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh của NHTM

Dưới góc độ hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro được định nghĩa là những sự thay đổi không lường trước được về giá trị tài sản (gồm tài sản có và tài sản nợ) và các nghĩa vụ khác (trích dẫn Nguyễn Văn Nam – Hoàng Xuân Quyến 2002).

Các phương châm quản trị rủi ro hiện đại được xây dựng trên cơ sở “Không có rủi ro thì không có lợi nhuận”, và “Rủi ro là cái để quản lý, chứ không phải để tránh”.

2.3. Phân loại rủi ro trong kinh doanh của NHTM

Tất cả các hoạt động của NHTM đều chứa đựng rủi ro hay những yếu tố không lường trước được có thể gây ra tổn thất cho ngân hàng. Có nhiều cách phân loại rủi ro. Theo cách phân loại thông dụng nhất, rủi ro bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp và rủi ro khác.

2.3.1  Rủi ro tín dụng

Là rủi ro phát sinh khi khách hàng vay không có khả năng thanh toán các nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng hoặc các loại thỏa thuận khác phát sinh nghĩa vụ thanh toán của khách hàng.

Có nhiều tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng của NHTM như:

Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu

Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất

Nợ có vấn đề, có khả năng chuyển thành nợ xấu cao

Nợ không có tài sản đảm bảo.

Nhiều ngân hàng phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng. Nợ của khách hàng nhóm A (loại 1) được coi là có rủi ro thấp nhất, còn khách hàng nhóm D, E (loại 4 – 5) được coi là có khả năng mất vốn cao nhất.

2.3.2  Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường là những rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu khi giá cả trên thị trường thay đổi như thay đổi lãi suất, thay đổi tỷ giá, biến động trên thị trường chứng khoán, thay đổi giá cả hàng hóa, thậm chí thay đổi giá xăng dầu hay giá nông sản… Rủi ro thị trường thể hiện ở các trường hợp:

Rủi ro chi phí nếu lãi suất thay đổi;

Rủi ro tiền tệ nếu danh mục đầu tư gồm nhiều loại tiền khác nhau;

Rủi ro thanh khoản nếu khó bán;

Rủi ro trong trường hợp lây lan rủi ro giữa hai loại trái phiếu…

2.3.3 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản chia làm hai loại: rủi ro thanh khoản của tài sản và rủi ro thanh khoản về vốn. Rủi ro thanh khoản của tài sản phát sinh do tính thanh khoản của tài sản (tài sản có, tài sản nợ) không thể thực hiện được trong điều kiện nhất định (ví dụ: tài sản cầm cố, thế chấp là bất động sản; trái phiếu kỳ hạn dài…). Rủi ro thanh khoản về vốn phát sinh khi doanh nghiệp mất khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán và phải nhượng bán lại các tài sản đầu tư với giá thấp hơn giá thị trường hoặc giá dự kiến (ví dụ hoạt động chiết khấu trái phiếu của NHTM cho NHTW khi thiếu vốn tiền mặt).

2.3.4   Rủi ro tác nghiệp

Là rủi ro phát sinh do chính con người gây ra hoặc sự cố kỹ thuật, máy móc xảy ra hoặc do quy trình, quy chế, cơ chế không đầy đủ, có sơ hở gây ra tổn thất cho ngân hàng. Các vấn đề liên quan đến rủi ro tác nghiệp bao gồm:

Chiến lược kinh doanh;

Các chính sách, các quy trình tác nghiệp;

Công tác tổ chức;

Các quá trình kinh doanh;

Các hoạt động nghiệp vụ, hoạt động hỗ trợ;

Nguồn nhân lực;

Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin;

Các biện pháp kiểm soát;

Công tác kiểm toán.

2.3.5 Các loại rủi ro khác

Tùy vào mục đích quản lý mà ngân hàng có thể xác định các loại rủi ro khác trong hoạt động kinh doanh của mình như: rủi ro pháp lý, rủi ro danh tiếng, rủi ro đạo đức… Trong quản trị ngân hàng hiện đại, các NHTM lớn gần đây đã bắt đầu chú ý đến một loại rủi ro mới là rủi ro tập trung tín dụng (credit concentration risk) trong điều kiện hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) đang diễn ra mạnh mẽ.

2.4. Mức độ tác động của các loại rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của NHTM

Đối với từng mảng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì mức độ tác động của từng loại rủi ro là khác nhau. Do đó, để quản trị rủi ro có hiệu quả đối với từng mảng nghiệp vụ, các nhà nghiên cứu đã quy ước về rủi ro điển hình để đánh giá mức độ các loại rủi ro đối với từng mảng kinh doanh khác nhau, cụ thể: RR cao, RR trung bình, RR thấp, không có RR. Ví dụ: Đối với mảng khách hàng doanh nghiệp, nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng liên quan đến đối tượng khách hàng này là nghiệp vụ tín dụng. Do vậy, đối với mảng khách hàng này, rủi ro tín dụng là rủi ro có nguy cơ xảy ra cao nhất. Bên cạnh đó, vì nguồn tín dụng liên quan đến đối tượng khách hàng doanh nghiệp thường tương đối lớn, các cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định hồ sơ luôn phải thận trọng. Chính vì vậy, khả năng xảy ra rủi ro tác nghiệp tương đối thấp.

Ngược lại, đối với mảng kinh doanh ngoại tệ và quản lý ngân quỹ, rủi ro tín dụng được đánh giá là ở mức thấp và rủi ro tác nghiệp có nguy cơ xảy ra cao do tính đặc thù của nghiệp vụ này không liên quan đến hoạt động tín dụng mà chủ yếu là các thao tác, kỹ năng máy tính và sự nắm bắt nhanh nhạy với những biến động của thị trường.

3. Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM

3.1. Khái niệm quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro là một bộ phận trong công tác quản trị điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của NHTM. Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM liên quan đến việc xác định, đo lường, giám sát, kiểm soát, quản lý và xử lý rủi ro nhằm đảm bảo:

  • Các cá nhân liên quan đến rủi ro và có trách nhiệm quản trị rủi ro phải hiểu rõ về rủi ro;
  • Rủi ro của một ngân hàng nằm trong giới hạn xác định bởi Hội đồng quản trị;
  • Rủi ro trong việc quyết định phải tương ứng với mục tiêu và chiến lược kinh doanh do Hội đồng quản trị đề ra;
  • Quỹ dự phòng phải bù đắp được các loại rủi ro dự kiến sẽ xảy ra;
  • Rủi ro trong việc ra quyết định phải rõ ràng, minh bạch;
  • Có đủ vốn để bù đắp rủi ro.

3.2. Nội dung quản trị rủi ro

3.2.1 Nhận dạng rủi ro

Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng, nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.

Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và có thể xuất hiện đối với ngân hàng bằng phương pháp sau: lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra, phân tích các báo cáo tài

chính, phương pháp lưu đồ, thanh tra hiện trường, phân tích các hợp đồng, làm việc với các cơ quan Nhà nước, các ban, ngành có liên quan.

3.2.2 Phân tích rủi ro

Phân tích rủi ro là quá trình xác định những nguyên nhân gây ra rủi ro. Đây là một công việc phức tạp, bởi mỗi rủi ro không chỉ do một nguyên nhân duy nhất gây ra mà thường do nhiều nguyên nhân gây ra. Phân tích rủi ro nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro.

3.2.3 Đo lường rủi ro và dự tính tổn thất

NHTM phải đánh giá được mức độ rủi ro cũng như các đặc điểm rủi ro mà ngân hàng mình đang có. Trước hết, NHTM phải xác định được những loại rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt cũng như mức độ của mỗi loại rủi ro đó.

Để đánh giá được rủi ro của NHTM, một loạt các chỉ số thống kê và số học được xây dựng và sử dụng trong công tác quản trị rủi ro của ngân hàng. Cụ thể là:

Mức độ rủi ro (Exposure): là tổng giá trị tài sản có mà ngân hàng coi là có rủi ro.

Xác suất khách hàng không trả được nợ (Probability of Default – PD): là tỷ lệ xác suất khách hàng nắm giữ tài sản có của ngân hàng không trả được nợ đúng hạn và đầy đủ. Tỷ lệ này được xác định đối với mỗi tài sản có trong danh mục đầu tư. Hiện tại, để tính được chỉ số này, ngân hàng phải sử dụng tổng thể kết quả tính toán và thống kê tỷ lệ tổn thất tín dụng của ngành và theo từng đối tượng khách hàng và đặc điểm của khoản cho vay.

Tổn thất trong trường hợp khách hàng không trả được nợ (Loss Given Default – LGD): là mức độ tổn thất đối với ngân hàng trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Một cách đơn giản, LGD được tính bằng trị giá khoản vay (gồm gốc + lãi + chi phí) trừ đi trị giá tài sản đảm bảo khoản vay.

Tổn thất dự kiến (Expected Loss – EL): là mức tổn thất mà ngân hàng có thể tính toán và dự tính trước được tương ứng với mỗi khoản mục trong danh mục đầu tư. Trong một số trường hợp cụ thể, EL = LGD.

Tổn thất không dự kiến (Unexpected Loss – UL): là những tổn thất nằm ngoài dự kiến của ngân hàng khi tiến hành phê duyệt khoản vay. Ví dụ: những tổn thất liên quan đến rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá là những biến động của thị trường trong tương lai mà tại thời điểm bắt đầu khoản cho vay, ngân hàng không thể dự đoán trước.

Giá trị rủi ro (Value at risk – VAR): là một chỉ số lượng hoá thống kê giá trị thực tế của tài sản sau một khoảng thời gian với độ tin cậy xác định trước (ví dụ: 95%, 99%,…).

Các chỉ số khác.

3.2.4 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

Rủi ro được kiểm soát bằng việc thực hiện các thủ tục nằm trong hệ thống KSNB trong các quy trình kinh doanh và hoạt động nhằm giảm thiểu rủi ro. Ban điều hành NHTM phải tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa chi phí cho các thủ tục kiểm soát và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro phù hợp.

NHTM thường sử dụng một số phương pháp phòng ngừa rủi ro như: (1) dự phòng tổn thất tín dụng – loan loss reserves (provision); (2) vốn an toàn tối thiểu (capital adequacy); (3) phòng ngừa rủi ro (risk hedging); (4) các phương pháp khác.

3.2.5 Xử lý rủi ro

Dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra, khi đó cần phải theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lí. Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp. Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục và chuyển giao rủi ro.

3.3. Các nguyên tắc cơ bản trong quản trị rủi ro

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong phân tích các nguyên tắc cơ bản trong quản trị rủi ro đối với ngân hàng thương mại. Theo thực tiễn quản trị rủi ro của các NHTM trên thế giới, công tác quản trị rủi ro trong hoạt động của một NHTM thường thực hiện theo một số nguyên tắc chủ yếu sau:

Nguyên tắc chấp nhận rủi ro;

Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép;

Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt;

Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập;

Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính;

Nguyên tắc hiệu quả kinh tế, hợp lý về thời gian;

Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng;

Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép.

3.4. Quy trình quản trị rủi ro

Tuỳ thuộc vào cơ cấu rủi ro của mình mà mỗi ngân hàng xây dựng một quy trình rủi ro phù hợp. Những ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, danh mục sản phẩm đơn giản,… có thể lựa chọn xây dựng cho mình một quy trình quản trị rủi ro ít tốn kém hơn các ngân hàng lớn hơn. Nhưng tựu chung, một quy trình quản trị rủi ro của một NHTM thường bao gồm những bước sau:

Bước 1: Xác định rủi ro và xây dựng hệ thống chính sách, quy chế, quy định

Trong bước này, NHTM cần thực hiện:

  • Xác định chính sách rủi ro của ngân hàng: mức độ rủi ro mong muốn, chính sách và chiến lược của ngân hàng về rủi ro;
  • Xây dựng chính sách tín dụng: quy định về thủ tục phê duyệt khoản vay và thẩm quyền phê duyệt…
  • Xây dựng chính sách định giá; Đưa ra quy định về cơ chế rà soát, báo cáo;
  • Các quy định về RAROC;
  • Chính sách kế toán và các quy định chung về rủi ro tác nghiệp.

Bước 2: Phân tích rủi ro và lượng hoá rủi ro

Tại bước này, NHTM phải có sẵn hệ thống các chỉ tiêu thống kê và công cụ phân tích thống kê bên cạnh các cơ chế, chính sách quản trị rủi ro bên trên. Muốn thực hiện được việc phân tích và lượng hoá, NHTM phải có sẵn cơ sở dữ liệu đầy đủ làm “nguyên liệu” cho quá trình chạy các mô hình tính toán các chỉ số đo lường rủi ro.

Bước 3: Chấp nhận rủi ro, quản lý và báo cáo

Bước 3 là bước NHTM căn cứ trên kết quả phân tích ở bước 2 và đối chiếu với các cơ chế, chính sách tại bước 1 quyết định sẽ tiến hành các loại giao dịch, hoạt động ngân hàng (ví dụ: cho vay, đầu tư, kinh doanh ngoại hối,…). NHTM phải thực hiện các công việc sau (gọi là quy trình EMRC):

Chấp nhận rủi ro (Empower): quyết định thực hiện giao dịch với các nội dung về trị giá, cơ cấu, các loại bảo đảm, mức giá (lãi suất),…

Theo dõi quản lý (Manage): liên tục phân tích các biến động liên quan đến rủi ro đã chấp nhận (thay đổi về lãi suất, cơ cấu, chuyển trạng thái,…)

Báo cáo (Report): hệ thống các loại báo cáo về chỉ số hoạt động chủ yếu (KPI – Key Performance Indexes) như RORAC, VAR, rủi ro tập trung hoá (concentration risk – khi mức độ rủi ro chiếm phần lớn so với vốn tự có của NHTM)…

Kiểm soát (Control): kiểm soát việc tuân thủ và phù hợp với các quy chế, cơ chế, quy trình, quy định của pháp luật,…

3.5. Các cấp độ quản trị rủi ro

Cấp độ chiến lược: bao gồm các chức năng quản trị rủi ro của Hội đồng quản trị và Ban điều hành cấp cao.

Cấp độ vĩ mô: bao gồm việc quản trị rủi ro thuộc phạm vi kinh doanh. Thông thường cấp độ này được thực hiện bởi Ban điều hành cấp trung hoặc các đơn vị chuyên về xem xét rủi ro thuộc phạm vi kinh doanh.

Cấp độ vi mô: liên quan đến việc quản trị trực tiếp các loại rủi ro thực sự xảy ra. Đây là công việc của những cá nhân thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến rủi ro như các bộ phận tiếp xúc khách hàng hay bộ phận cho vay.

3.6. Cơ cấu quản trị rủi ro

Cơ cấu quản trị rủi ro bao gồm phạm vi rủi ro cần quản trị, quá trình, hệ thống, quy trình quản trị rủi ro và chức năng, trách nhiệm của những cá nhân liên quan đến quản trị rủi ro. Một cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro hiệu quả bao gồm:

  • Chính sách và quy trình quản trị rủi ro được xác định rõ ràng, gồm: xác định rủi ro, giới hạn chấp nhận, đo lường, giám sát, báo cáo và kiểm soát.
  • Quy định rõ chức năng, trách nhiệm của những cá nhân chịu rủi ro và quản trị rủi ro. Để tăng cường chức năng quản trị đối với các loại rủi ro, ngân hàng có thể thành lập một bộ phận giám sát tất cả các hoạt động quản trị rủi ro tại ngân hàng.
  • Cần có một hệ thống quản trị thông tin hiệu quả để đảm bảo thông tin được lưu thông từ các cấp độ hoạt động đến cấp điều hành và một hệ thống kiểm soát bất cứ sự ngoại lệ nào cũng như quy trình đánh giá rõ ràng đối với ngoại lệ này.

3.7. Tính hệ thống của quản trị rủi ro

Các loại rủi ro không nên được xem xét và đánh giá một cách riêng biệt, bởi vì không chỉ có một giao dịch đơn mới chứa đựng một số rủi ro, hơn nữa một loại rủi ro cũng có thể tác động đến các loại rủi ro khác. Do sự tương tác của nhiều loại rủi ro khác nhau có thể dẫn đến sự tăng giảm rủi ro, quá trình quản trị rủi ro cần nhận ra và phản ánh sự tương tác rủi ro trong toàn bộ hoạt động kinh doanh một cách thích hợp và có tính hệ thống.

4. Quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM theo Hiệp ƣớc Basel

4.1. Sự ra đời và quá trình phát triển của Hiệp ước Basel

4.1.1. Uỷ ban Basel

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tài chính quốc tế, tác động từ những vụ việc và sự sụp đổ của một hoặc một vài ngân hàng hoạt động quốc tế (international bank) mang tính lan truyền mạnh mẽ ảnh hưởng tới ngành tài chính ngân hàng của không chỉ nước của ngân hàng đó, mà thường có tác động lan truyền. Nhằm ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng tài chính ngân hàng toàn cầu, đặc biệt là sau sự sụp đổ của ngân hàng Bankhaus Herstatt của Tây Đức vào năm 1977, các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ trung ương (ngân hàng trung ương hoặc một cơ quan có chức năng tương tự) của 10 nước có nền kinh tế phát triển đã thành lập Uỷ ban Basel (The Basel Committee on Banking Regulations and Supervisory Practices) để xây dựng những khuôn khổ chung kiểm soát các rủi ro đối với những ngân hàng hoạt động quốc tế. Trụ sở của Uỷ ban Basel nằm tại thành phố Basel, Thuỵ Sỹ (trích dẫn Basel Committee on Banking Supervision 2005).

Đến nay, Uỷ ban Basel có 27 thành viên, gồm các nước: Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Hoa Kỳ. Đại diện cho các quốc gia này là ngân hàng trung ương hoặc cơ quan có chức năng giám sát an toàn hoạt động ngân hàng. Uỷ ban nhóm họp 3 hoặc 4 lần trong năm. Hiện tại, Chủ tịch NHTW Hà Lan đang đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Uỷ ban.

Trên thực tế, Uỷ ban Basel là một diễn đàn để các nước phát triển thành viên trao đổi và hợp tác về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng thương mại của từng nước. Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống Ngân hàng của một quốc gia dù là phát triển hay đang phát triển, đều có thể đe dọa không chỉ đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó mà còn cả trên phạm vi toàn thế giới. Ban đầu sau khi thành lập, Uỷ ban Basel chủ yếu bàn về các cơ chế hợp tác nhằm đi đến thống nhất một cơ chế chung về giám sát hoạt động ngân hàng trong nội bộ 13 quốc gia thành viên. Sau này, Uỷ ban đặt ra mục tiêu xây dựng một khuôn khổ giám sát an toàn cho hoạt động ngân hàng trên phạm vi toàn cầu. Cách thức thực hiện mà Uỷ ban này đưa ra bao gồm: (1) trao đổi thông tin về các cơ chế giám sát hoạt động ngân hàng của các quốc gia, (2) nâng cao tính hiệu quả của các kỹ thuật giám sát an toàn hoạt động ngân hàng quốc tế, và (3) đặt ra những yêu cầu tối thiểu về cơ chế giám sát an toàn đối với những mặt hoạt động quan trọng nhất.

Uỷ ban Basel không phải là một cơ quan giám sát an toàn hoạt động ngân hàng mang tính siêu quốc gia (supernational supervisory authority) về mặt luật pháp và bản thân Uỷ ban cũng không có ý định như vậy. Thay vào đó, Uỷ ban hướng tới việc xây dựng những chỉ dẫn và chuẩn mực về công tác giám sát an toàn hoạt động NHTM một cách phổ quát và đưa ra những thông lệ tốt nhất nhằm khuyến khích ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của từng nước áp dụng và cụ thể hoá thành chính sách điều hành của riêng mình phù hợp với các kỹ thuật giám sát an toàn hoạt động ngân hàng áp dụng tại mỗi nước thành viên. Một mục tiêu quan trọng mà Uỷ ban Basel đặt ra là thu hẹp khoảng cách trong công tác giám sát an toàn hoạt động ngân hàng trên phương diện quốc tế, với 2 nguyên tắc chủ yếu: (1) không để một ngân hàng nước ngoài nào không chịu sự giám sát, và (2) công tác giám sát phải đảm bảo đầy đủ.

4.1.2. Sự ra đời và quá trình phát triển của Hiệp ƣớc Basel

Những năm 1970, nền kinh tế Mỹ và nhiều nước phát triển trên thế giới suy yếu và khu vực ngân hàng bắt đầu cho thấy những dấu hiệu của sự yếu kém. Sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng lớn là bằng chứng cho thấy rằng ngay cả những ngân hàng tương đối lớn cũng không tránh khỏi biến động.

Lạm phát và lãi suất cao bất thường đã làm suy yếu trầm trọng một số lượng lớn các ngân hàng tiết kiệm. Trên góc độ kinh tế, lãi suất và giá dầu tăng quá cao đã dẫn đến một cuộc suy thoái toàn cầu năm 1981. Tỷ lệ phá sản các ngân hàng bắt đầu tăng, một phần do các điều kiện kinh tế đang suy yếu dần và một phần do quy mô rủi ro của ngân hàng tăng. Xu hướng về vốn của ngân hàng cũng gây ra nhiều mối lo ngại. Tỷ lệ vốn/tài sản có luôn luôn dưới 6% từ năm 1977 đến 1982.

Trước những yếu kém kinh tế vĩ mô, ngày càng nhiều trường hợp ngân hàng bị phá sản và quy mô vốn ngân hàng thu nhỏ đã thúc đẩy một phản ứng về chính sách vào năm 1981. Lần đầu tiên, các tổ chức hoạt động ngân hàng đã áp dụng những yêu cầu về vốn một cách rõ ràng. Các tiêu chuẩn này sử dụng các tỷ lệ đòn bẩy là vốn cổ phần/tổng tài sản có.

Trước tình hình đó, các nhà chính sách ngân hàng đều nhất trí rằng khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn cần phải được điều chỉnh phù hợp với rủi ro ngân hàng. Vì vậy,

năm 1988, Uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel đã xây dựng Hiệp ước Basel 1988 (Hiệp ước Basel I). Thời điểm đó, Uỷ ban gồm các đại diện từ Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật, Hà Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ, Anh và Mỹ. Các nhà chính sách Mỹ và các nước khác tiếp tục xem xét các phương pháp quản trị rủi ro ngân hàng và năm 1988, thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm các nước G10 đã áp dụng các nguyên tắc Hiệp ước Basel này. Các tổ chức áp dụng Hiệp ước Basel được yêu cầu duy trì một tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có rủi ro ít nhất là 8%. Đến tháng 9/1993, tất cả các NHTM trong nhóm G10 có hoạt động kinh doanh ngân hàng quốc tế lớn đều đạt được yêu cầu về tỷ lệ vốn tối thiểu như quy định trong Hiệp ước Basel I. Hiệp ước Basel I cũng quy định cụ thể về vốn của một ngân hàng thương mại cũng như cách thức tính toán tỷ lệ vốn tối thiểu để đạt mức 8% trên tài sản có tính theo trọng số rủi ro (hay còn gọi là Tỷ số Cooke – Cooke Ratio).

Tuy nhiên, trong quá trình thực tiễn áp dụng tại nhóm G10 cũng như tham khảo ý kiến của NHTW các nước ngoài G10, Basel I có một số hạn chế chủ yếu sau:

Thứ nhất, trọng số rủi ro chỉ phân biệt nhóm tài sản có theo đối tượng cho vay mà không phân biệt đến chất lượng hoạt động thực tế của đối tượng đó. Cụ thể, theo Basel I thì một khoản vay cho đối tượng công ty được xếp hạng tín dụng loại A (theo các công ty xếp hạng tín dụng quốc tế như Standard & Poors, Moody’s hay Fitch ICBA) cũng được gán trọng số rủi ro là 100% như đối với khoản vay cho công ty có xếp hạng tín dụng thấp hơn, ví dụ BB, B hay B- vì cùng là cho vay khu vực tư nhân. Điều này không phản ánh hết ý nghĩa của công tác quản trị rủi ro.

Thứ hai, việc quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% mới chỉ giúp đảm bảo an toàn cho rủi ro tín dụng, trong khi đó bỏ qua các loại rủi ro khác đang ngày càng quan trọng đối với NHTM như: rủi ro thị trường (market risk), rủi ro lãi suất (interest rate risk), rủi ro tác nghiệp (operational risk).

Thứ ba, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động. Các lí thuyết về đầu tư chỉ ra rằng rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên, theo Basel I, quy định về vốn tối thiểu không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều rủi ro hơn).

Thứ tư, một số quy tắc do Basel I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng hoạt động theo kiểu ngân hàng đơn, không dựa trên một sự sáp nhập hay hoạt động theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng – chi nhánh,…

Thứ năm, một số quy định trong Basel I đã không còn phù hợp khi các ngân hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn lớn, có khả năng cạnh tranh cao và có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, các ngân hàng không còn chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn vươn ra tầm quốc tế.

Thứ sáu, các quy định của Basel I chưa bắt kịp với sự phát triển của các công cụ tài chính mới như chứng khoán hoá các khoản nợ và các công cụ phái sinh.

Tháng 11/1991, Hiệp ước Basel I được sửa đổi để đưa ra định nghĩa chính xác hơn về dự phòng chung (general provisions) hay còn gọi là dự phòng tổn thất tín dụng chung (general loan-loss reserves) trong công thức xác định tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn của NHTM. Các loại rủi ro khác ngoài rủi ro tín dụng cũng được xem xét và đưa vào thành một nội dung trong công tác giám sát an toàn. Tháng 1/1996, sau khi tiến hành 2 đợt lấy ý kiến rộng rãi từ NHTW cũng như NHTM ở hầu khắp các khu vực trên thế giới, Uỷ ban Basel ban hành Bản sửa đổi Hiệp ước Basel I và có hiệu lực muộn nhất vào cuối năm 1997 đối với các nước thành viên. Một trong những sửa đổi quan trọng là việc đưa vào giám sát các rủi ro thị trường đối với hoạt động của NHTM phát sinh từ trạng thái ngoại hối, việc mua bán các chứng khoán nợ (debt securities), cổ phiếu, hàng hoá và quyền chọn. Về mặt phương pháp, Bản sửa đổi cho phép các NHTM có thể thay vì sử dụng phương pháp tính toán tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chuẩn hoá được phép sử dụng các mô hình giá trị rủi ro (VAR) nội bộ để tự tính toán yêu cầu vốn tối thiểu cho rủi ro thị trường.

Tháng 6/2004, Uỷ ban Basel chính thức ban hành một khuôn khổ mới (Hiệp ước Basel II) thay thế cho Hiệp ước Basel I sau 6 năm phát triển và tổng hợp ý kiến đóng góp từ các nước trên khắp thế giới. Hiệp ước Basel II được xác định là có khả năng áp dụng cho các ngân hàng và tổ chức quốc tế trên cơ sở hợp nhất hoặc sáp nhập, nghĩa là Hiệp ước này nhằm bảo toàn vốn tốt nhất cho các ngân hàng có nhiều công ty con hoặc chi nhánh.

So với Hiệp ước Basel I, Basel II được xem là thể hiện một sự linh động hơn đối với việc xử lý các tình huống khác nhau để xác định nhu cầu vốn tối thiểu cho từng khoản mục tài sản có rủi ro của các NHTM, đồng thời những tiêu chuẩn do Hiệp ước Basel II đưa ra cũng có mức độ nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua xử lý các biến xác suất và kỳ vọng. Basel II ra đời tạo một bước hoàn thiện hơn trong việc xác định tỷ lệ an toàn vốn, nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng thực hiện phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến hơn. Hiệp ước Basel về vốn mới đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của các yêu cầu về vốn và trong nhận thức về thanh tra giám sát các ngân hàng lớn. Những thay đổi này vượt ra khỏi phạm vi các tổ chức hoạt động ngân hàng lớn, và vì vậy, đã tạo ra sự quan tâm của các thành viên tham gia thị trường khác nhau.

Tuy nhiên, giống như Basel I, Basel II cũng đã bộc lộ một số hạn chế sau một thời gian dài triển khai. Thứ nhất, việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro nâng cao chưa có các tiêu chuẩn có thể được chấp nhận rộng rãi. Thứ hai, các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu kỳ kinh doanh. Thứ ba, các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản phẩm, dịch vụ có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao.

Ngày 12/9/2010, nhóm các thống đốc NHTW và người đứng đầu cơ quan thanh tra, giám sát đã tổ chức họp bàn các quy định mới về vốn của Ủy ban Basel tại thành phố Basel, Thụy Sỹ; và vào ngày 01/06/2011, nhóm các thống đốc NHTW và người đứng đầu cơ quan thanh tra, giám sát đã công bố thỏa thuận đạt được cuối cùng về các tiêu chuẩn cao hơn về nguồn vốn dự trữ của ngân hàng trên toàn cầu hay còn gọi là Hiệp ước Basel III. Các quy định mới này được đưa ra như là một phần trong nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm cải thiện khả năng của ngân hàng trong việc hấp thụ những cú sốc phát sinh từ sự căng thẳng tài chính và kinh tế, bất kể nguồn gốc, do đó giảm nguy cơ khủng hoảng tài chính cho các nền kinh tế hiện tại.

Một cách tổng thể, Basel III tăng cường yêu cầu về vốn của ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Tổ chức OECD ước tính rằng việc thực hiện Basel III sẽ giảm tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm khoảng từ 0,05% – 0,15%. Các tiêu chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi ngân hàng giữ vốn nhiều hơn và có chất lượng vốn cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành của Basel II.

4.2. Nội dung quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM theo Hiệp ước Basel

Hoạt động của một ngân hàng thường được tài trợ từ hai nguồn, tiền vay hoặc vốn chủ sở hữu. Tiền vay của ngân hàng (gồm cả các khoản tiền gửi) là các tài sản nợ mà nếu không được thanh toán đúng hạn có thể đẩy ngân hàng trước tình trạng mất khả năng trả nợ. Trái lại, đầu tư của chủ sở hữu có thể có lãi hoặc bị thua lỗ nhưng không đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng trả nợ như trên. Vì vậy, trong điều kiện các yếu tố khác như nhau, tỷ trọng các hoạt động của một ngân hàng được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng lớn thì ngân hàng đó sẽ có thể tiếp tục trả được nợ trong những thời kỳ kinh tế khó khăn.

Lập luận này tạo cơ sở cho các chuyên gia giám sát ngân hàng xem tỷ lệ an toàn vốn như là một yếu tố cơ bản quyết định sự an toàn và hiệu quả của ngân hàng. Một ngân hàng thường xuyên duy trì đầy đủ vốn, số vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động ngày một cao hơn thì đó là biểu hiện của một ngân hàng ổn định, lành mạnh và hoạt động hiệu quả. Những ngân hàng thiếu vốn với giá trị ròng thấp sẽ dễ đổ vỡ khi gặp phải những rủi ro hoặc trước những biến động của môi trường kinh doanh. Với lập luận trên, nội dung chính của Hiệp ước Basel I năm 1988 tập trung vào các quy định về vốn cũng như hệ thống tỷ trọng rủi ro đối với từng loại tài sản của ngân hàng. Ủy ban Basel tin rằng các quy định này là một khuôn khổ hữu ích cho việc quản lý và giám sát rủi ro ngân hàng một cách thận trọng, đồng thời làm cơ sở cho các ngân hàng ban hành các chính sách, thủ tục và thông lệ thực hành về quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

4.2.1. Nội dung quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM theo Hiệp ước Basel I

Hiệp ước Basel I gồm 3 phần: Phần 1 nói về các yếu tố tạo thành vốn; Phần 2 đề cập đến hệ thống các tỷ trọng rủi ro và Phần 3 bàn về tỷ lệ vốn mục tiêu. Theo Basel I, vốn của ngân hàng (vốn tự có) sẽ bao gồm vốn gốc (hay vốn cổ phần cơ bản, vốn cấp 1) và vốn bổ sung (vốn cấp 2).

Hai thành phần chính của vốn cấp 1 là vốn cổ phần và các quỹ dự trữ công khai. Vốn cổ phần bao gồm vốn cổ phần thông thường đã phát hành và được thanh toán đủ và cổ phần ưu đãi vĩnh viễn không tích lũy. Vốn cấp 2 bao gồm các thành phần: dự trữ không công khai, dự trữ định giá lại, dự phòng chung/dự trữ chung cho tổn thất cho vay, các công cụ nợ/vốn lưỡng tính, và nợ thứ cấp có thời hạn.

Để khuyến khích các ngân hàng không ngừng tăng cường quy mô vốn cấp 1, không quá phụ thuộc vào vốn cấp 2, Ủy ban yêu cầu tối thiểu 50% cơ sở vốn của ngân hàng phải là các thành phần chủ yếu (tức là vốn cấp 1, bao gồm vốn cổ phần và quỹ dự trữ công khai trích lập từ lợi nhuận sau thuế). Những thành phần khác của vốn (vốn bổ sung) sẽ được đưa vào vốn cấp 2 với mức tối đa không quá mức vốn cấp 1. Những thành phần vốn bổ sung có thể được tính hoặc không được tính vào vốn cấp 2 tùy theo quyết định của cơ quan thẩm quyền của từng nước căn cứ vào các quy định pháp luật của nước đó.

Theo quy định của Ủy ban Giám sát ngân hàng, khi tính toán tỷ lệ vốn theo tỷ trọng rủi ro, ngân hàng phải loại trừ những khoản sau:

Trừ khỏi vốn cấp 1: uy tín thương mại

Trừ khỏi tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2: các khoản đầu tư vào các công ty con hoạt động trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng không thực hiện hạch toán tổng hợp (để tránh tình trạng cùng một nguồn vốn được sử dụng nhiều lần tại những công ty con khác nhau của cùng một tập đoàn ngân hàng).

Các giới hạn cần tuân thủ khi tính toán vốn của một ngân hàng:

(i) Tổng giá trị các thành phần vốn cấp 2 (vốn bổ sung) sẽ bị hạn chế ở mức tối đa là 100% giá trị các thành phần vốn cấp 1;

(ii) Nợ thứ cấp sẽ bị giới hạn ở mức tối đa không quá 50% tổng giá trị các thành phần vốn cấp 1;

(iii) Nếu khoản dự phòng chung/dự trữ chung cho tổn thất cho vay có bao gồm cả số tiền phản ánh giá trị tài sản có thấp hơn hoặc phản ánh những tổn thất tiềm ẩn nhưng chưa được xác định rõ trên bảng tổng kết tài sản thì khoản dự phòng hoặc dự trữ này sẽ bị giới hạn ở mức tối đa không quá 1,25%;

(iv) Dự trữ định giá lại tài sản dưới hình thức thu nhập dự kiến hoặc chứng khoán chưa bán sẽ phải khấu trừ đi 55%.

Trong khuôn khổ Hiệp ước Basel I, các tỷ trọng rủi ro được xây dựng với phương châm càng đơn giản càng tốt. Cụ thể, Basel I chỉ quy định 5 loại tỷ trọng rủi ro là 0, 10, 20, 50 và 100%, đồng thời đưa ra những tiêu chí tổng quát để làm căn cứ phân loại tài sản có vào các nhóm rủi ro thích hợp.

So với phương pháp so sánh đơn giản trước đây thì phương pháp sử dụng tỷ lệ rủi ro nêu tại Hiệp ước Basel I có những ưu điểm sau:

(i) Tạo ra một cơ sở công bằng hơn để so sánh trên bình diện quốc tế giữa các hệ thống ngân hàng khác nhau;

(ii) Cho phép tính đến các khoản mục rủi ro ngoại bảng khi đo lường mức độ đủ vốn của ngân hàng;

(iii) Không cản trở việc các ngân hàng giữ tài sản có tính lỏng cao hoặc các tài sản khác có mức độ rủi ro thấp.

Phần 3 của Hiệp ước Basel I đặt ra tỷ lệ tối thiểu giữa vốn so với tài sản có rủi ro mà các ngân hàng hoạt động quốc tế cần đạt được là 8% – tỷ lệ Cooke (trong đó phần vốn gốc phải chiếm ít nhất 4%). Công thức xác định như sau:

Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Vốn bắt buộc/ Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền.

Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA) = Tổng tài sản có nội bảng x Hệ số rủi ro + Tổng tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro.

Theo đó: Ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.

4.2.2. Nội dung quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM theo Hiệp ước Basel II

Do những hạn chế trong quá trình triển khai Basel I, tháng 6/2004, Ủy ban Basel chính thức ban hành Hiệp ước Basel II thay thế cho Hiệp ước Basel I. Hiệp ước Basel II đưa ra một loạt các phương án lựa chọn, cho phép các ngân hàng có quyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt động. Ngoài nội dung về yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu, Hiệp ước Basel II còn mở rộng thêm hai nội dung về thanh tra giám sát ngân hàng và công khai minh bạch thông tin. Hiệp ước Basel II được cấu trúc gồm 3 trụ cột: (1) Yêu cầu vốn tối thiểu, là sự mở rộng của các quy tắc chuẩn hoá đặt ra trong Hiệp ước 1988, (2) Quy trình rà soát giám sát tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn và quá trình đánh giá nội bộ, và (3) Áp dụng các nguyên tắc thị trường nhằm khuyến khích việc công khai thông tin cũng như thực hiện các thông lệ kinh doanh ngân hàng an toàn.

(i) Trụ cột thứ nhất: Yêu cầu vốn tối thiểu

Basel II yêu cầu các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp. Theo đó, Basel II đưa ra một tỷ lệ vốn, với tử số là vốn tự có của ngân hàng và mẫu số là tài sản có rủi ro (đo lường mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng). Tỷ lệ vốn tối thiểu theo quy định tại Basel II là 8%.

So với quy định về yêu cầu vốn tối thiểu tại Basel I, bản Hiệp ước mới chỉ thay đổi phương pháp xác định tài sản có rủi ro nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đánh giá rủi ro của bản thân ngân hàng, qua đó làm cho tỷ lệ vốn tối thiểu trở nên có ý nghĩa hơn, phản ánh được chính xác hơn khả năng thanh toán của ngân hàng.

Basel II đề cập đến 3 loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Ngoài rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường đã được quy định tại bản Hiệp ước về vốn năm 1988, Basel II còn bổ sung thêm một loại rủi ro nữa là rủi ro tác nghiệp.

Đối với rủi ro thị trường, phương pháp tiếp cận tại bản Hiệp ước Basel II không có thay đổi gì so với Quy định bổ sung tháng 1 năm 1996.

Riêng đối với rủi ro tín dụng và rủi ro tác nghiệp, bản Hiệp ước mới đưa ra 3 phương án tính toán rủi ro tín dụng và 3 phương án tính toán rủi ro tác nghiệp khác nhau để các ngân hàng lựa chọn thực hiện phù hợp với mức độ phát triển hoạt động của bản thân ngân hàng nói riêng và với hạ tầng cơ sở nói chung.

(i.1) Đối với rủi ro tín dụng:

Bản Hiệp ước mới đưa ra 3 phương pháp tính toán rủi ro tín dụng (trích dẫn

Basel Committee on Banking Supervision 2000):

Phương pháp chuẩn hoá (Standardised);

Phương pháp cơ sở dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ (IRB);

Phương pháp nâng cao dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ (Advanced IRB).

(a). Phương pháp chuẩn hoá

Phương pháp chuẩn hoá đưa ra trong Basel II yêu cầu ngân hàng phải phân chia tài sản có của ngân hàng vào các nhóm rủi ro khác nhau, mỗi nhóm có một hệ số rủi ro cụ thể, tuỳ theo đặc điểm của từng khoản mục. So với quy định tại bản Hiệp ước về vốn năm 1998, phương pháp chuẩn hoá này có một số điểm mới sau:

Thứ nhất, kết quả đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập được sử dụng để nâng cao mức độ chính xác khi xếp hạng rủi ro cho tài sản có. Cơ quan thanh tra của từng quốc gia sẽ căn cứ vào hướng dẫn của Uỷ ban để quyết định lựa chọn nguồn dữ liệu của tổ chức xếp hạng độc lập đủ tiêu chuẩn làm cơ sở phân loại tài sản có. Trong trường hợp không có kết quả xếp hạng của tổ chức xếp hạng độc lập thì một khoản mục tài sản có sẽ phải chịu hệ số rủi ro 100%.

Thứ hai, nợ quá hạn phải đưa vào nhóm có hệ số rủi ro 150%, trừ trường hợp ngân hàng đã lập dự phòng đầy đủ.

Thứ ba, mở rộng hơn nữa phạm vi các hình thức đảm bảo (tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) mà ngân hàng có thể được phép chấp nhận khi tính toán mức vốn tối thiểu theo yêu cầu. Đồng thời, bản Hiệp ước mới cũng đưa ra một số phương pháp khác nhau để xác định giá trị thị trường của công cụ được sử dụng làm đảm bảo, từ đó tính toán mức vốn có thể được khấu trừ.

Nhằm hỗ trợ ngân hàng và cơ quan thanh tra ở những nước chưa có đủ điều kiện áp dụng phương pháp chuẩn hoá trên đây, Uỷ ban cũng đưa ra “phương pháp chuẩn hoá đơn giản”, trong đó tập hợp tất cả những lựa chọn đơn giản nhất để tính toán tổng tài sản có rủi ro.

(b). Các phương pháp dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ (IRB)

Có hai phương pháp tính toán tổng tài sản có rủi ro dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ là phương pháp cơ sở và phương pháp nâng cao. Điểm khác biệt cơ bản giữa các phương pháp IRB và phương pháp chuẩn hóa là khi tính toán tỷ lệ vốn tối thiểu theo phương pháp IRB, ngân hàng được phép căn cứ vào kết quả đánh giá nội bộ của mình về các yếu tố rủi ro chủ yếu trong hoạt động. Tuy nhiên, ngân hàng cũng không được quyết định mọi cấu phần cần thiết để xác định yêu cầu vốn tối thiểu của mình. Thay vào đó, các hệ số rủi ro và mức vốn cần thiết sẽ được xác định trên cơ sở số liệu định tính do ngân hàng cung cấp và công thức tính toán do Uỷ ban Giám sát ngân hàng đưa ra. Phương pháp luận mới này phù hợp cho ngân hàng với nhiều quy mô khác nhau, nhiều cấu trúc doanh nghiệp khác nhau và danh mục rủi ro khác nhau.

Cơ sở lý thuyết của phương pháp IRB là dựa trên mô hình giả định một nhân tố rủi ro (mô hình ASRF) đối với rủi ro tín dụng. Trong đó, khả năng không trả được nợ vay của khách hàng có thể vì sự khác biệt giữa giá trị tài sản và giá trị danh nghĩa của khoản nợ vay. Giá trị tài sản của các doanh nghiệp sẽ là một biến thay đổi theo thời gian, chịu một phần tác động của các biến cố ngẫu nhiên. Khả năng vỡ nợ sẽ xuất hiện khi giá trị tài sản của người đi vay quá thấp so với khoản nợ.

Các phương pháp IRB đều dựa trên 4 yếu tố đầu vào mang tính định lượng:

Xác suất không trả được nợ (Probability of default – PD): đo lường xác suất người vay không thanh toán được nợ. Việc không trả được nợ theo quy định của Basel được hiểu là xảy ra một trong hai tình huống: hoặc các nghĩa vụ trả nợ không được thực hiện đầy đủ mà ngân hàng không có quyền truy đòi ngược, hoặc các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày. Các khoản thấu chi sẽ được xem là quá hạn nếu khách hàng vi phạm hạn mức.

Tổn thất khi người vay không trả được nợ (Loss given default – LGD): đo lường tỷ lệ tài sản có bị tổn thất nếu xảy ra. Các ngân hàng phải ước tính phần LGD này cho các khoản phải đòi đối với mỗi doanh nghiệp, cơ quan chính phủ và các ngân hàng khác.

Trong phương pháp IRB cơ bản thì các khoản phải đòi đối với các công ty, cơ quan chính phủ và các ngân hàng không có tài sản đảm bảo sẽ được chỉ định giá trị LGD là 45%, nếu là các khoản phải đòi phụ đối với các tổ chức trên thì sẽ được chỉ định là 75%. Đối với các khoản phải đòi có tài sản đảm bảo là khoản phải thu, bất động sản thương mại (CRE) và bất động sản cư trú (RRE) và các tài sản đảm bảo khác thì được vận dụng như phương pháp chuẩn với các giá trị LGD tối thiểu,

Còn trong phương pháp IRB nâng cao thì việc ước tính LGD có thể phán ánh hiệu quả tác động giảm thiểu rủi ro của hoạt động bảo lãnh và các sản phẩm tín dụng phái sinh thông qua điều chỉnh PD hoặc LGD.

Giá trị rủi ro khi người vay không trả được nợ (Exposure at default – EAD): đo lường phần xử lý nợ (write-off) và dự phòng đặc biệt. Các công cụ và hệ số rủi ro được áp dụng giống như trong phương pháp chuẩn với một vài trường hợp ngoại lệ. Giá trị ròng trên bảng cân đối kế toán khi so sánh khoản vay với tiền gửi có cùng loại tiền và kỳ đáo hạn hoàn toàn khớp với nhau sẽ được xem xét giống như phương pháp chuẩn. Các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán ngoại trừ cam kết giao dịch hối đoái và chứng khoán phái sinh sẽ được tính toán bằng cách nhân với hệ số CCF. Có hai cách ước tính hệ số CCF này theo phương pháp cơ bản và phương pháp nâng cao.

Theo phương pháp cơ bản thì các loại công cụ và hệ số CCF áp dụng sẽ giống trong phương pháp chuẩn. Đối với hạn mức tín dụng thì áp dụng CCF 75%, với một số trường hợp đặc biệt như hạn mức có thể hủy ngang vô điều kiện hoặc tự động hủy khi đáo hạn thì có thể áp dụng CCF là 0%.

Theo phương pháp nâng cao, các ngân hàng tự ước tính giá trị CCF cho từng khoản mục ngoại trừ các khoản mục ấn định giá trị CCF là 100% trong phương pháp cơ bản. Riêng đối với các cam kết giao dịch hối đoái, lãi suất, vốn, và chứng khoán phái sinh liên quan đến hàng hoá thì IRB có quy định riêng theo cách tính hạn mức tín dụng tương đương tùy thuộc vào giá trị thực hiện tương lai và chi phí giao dịch với kỳ hạn khác nhau.

Kỳ hạn (Maturity – M): thời hạn kinh tế còn lại của tài sản có. Khi các ngân hàng sử dụng phương pháp IRB cơ bản thì M sẽ là 2,5 năm trừ các giao dịch repo với M chỉ là 6 tháng. Cơ quan giám sát quốc gia có thể lựa chọn mức yêu cầu trong phạm vi quyền hạn của mình (đối với những ngân hàng sử dụng cả IRB cơ bản và nâng cao) để đo lường M theo công thức (CT1) dưới đây. Tuy nhiên, M không được lớn hơn 5 năm.

Nếu các ngân hàng sử dụng IRB nâng cao, thì M cần được tính toàn cho từng công cụ theo công thức 1 (CT1). Nếu muốn áp dụng cho các trường hợp ngoại lệ đặc biệt thì phải đảm bảo rằng các khoản phải đòi đối với hoạt động của các doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ có kỳ đáo hạn hiệu dụng trung bình là 2,5 năm giống như trong phương pháp IRB cơ bản. với CFt là dòng tiền hàng năm (gốc, lãi và phí) theo hợp đồng phải trả trong kỳ hạn

Nếu ngân hàng không tính được M theo công thức (CT1) thì sẽ sử dụng cách cổ

điển khi tính M là M bằng với thời gian đáo hạn tối đa còn lại (theo năm) mà người vay chấp nhận thanh toán toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng vay (gốc, lãi và phí). Thông thường, đó chính là thời gian đáo hạn danh nghĩa của khoản vay hoặc các công cụ.

Phương pháp IRB sẽ dựa trên việc đo lường những thiệt hại không mong đợi (UL – unexpected losses) và các thiệt hại biết trước (EL – expected losses). Hàm số hệ số rủi ro được sử dụng làm cơ sở tính toán nhu cầu vốn cần thiết cho tỉ trọng các thiệt hại không mong đợi (UL). Ngoài ra, với phương pháp IRB này thì các ngân hàng cũng phải phân hạng tài sản trên sổ sách của mình theo nhiều loại khác nhau, với những tính chất đặc thù tùy theo từng nhóm khoản phải đòi đối với các chủ thể như (a) doanh nghiệp, (b) chính quyền nhà nước, (c) ngân hàng, (d) cá nhân, các khoản mục lẻ và (e) vốn. Mỗi hạng tài sản này theo phân loại của IRB sẽ bao gồm ba nhân tố cơ bản:

Yếu tố rủi ro – ước tính biến số rủi ro của các ngân hàng hoặc cơ quan giám sát.

Hàm số về hệ số rủi ro – các phương tiện giúp thành tố rủi ro được chuyển đổi thành tài sản có rủi ro và từ đó tính toán nhu cầu vốn.

Yêu cầu vốn tối thiểu – các chuẩn mực tối thiểu phải đạt đến đối với một ngân hàng muốn áp dụng phương pháp IRB.

Ủy ban đã cho phép các ngân hàng có hai sự lựa chọn khi áp dụng IRB, một là phương pháp IRB cơ bản và hai là phương pháp IRB nâng cao. Nếu sử dụng IRB cơ bản, theo quy định chung, các ngân hàng tự ước tính PD và dựa trên ước tính của cơ quan giám sát về các thành tố rủi ro khác. Nếu sử dụng IRB nâng cao, ngân hàng sẽ phải tự đưa ra ước tính cho tất cả các thành tố rủi ro bao gồm PD, LGD và EAD, đồng thời tự tính toán biến số M, nhưng phải tuân theo các chuẩn mực tối thiểu. Đối với cả hai phương pháp cơ bản và nâng cao, các ngân hàng phải luôn sử dụng hàm số hệ số rủi ro theo quy định cụ thể của Hiệp ước.

PD và LGD được đo bằng số thập phân hoặc tỉ lệ phần trăm; EAD được đo lường bằng đơn vị tiền tệ (ví dụ như EUR, USD) ngoại trừ có những quy định đặc biệt khác được ghi chú.

Uỷ ban Giám sát ngân hàng cũng đặt ra những tiêu chí tối thiểu mà ngân hàng phải đáp ứng nếu muốn được phép thực hiện theo phương pháp IRB cơ sở hay phương pháp IRB nâng cao. Mục đích của việc này là nhằm hạn chế sự khác biệt giữa cách thức áp dụng phương pháp IRB ở các ngân hàng, qua đó giúp cho cơ quan giám sát có thể so sánh, đánh giá chất lượng các ngân hàng khác nhau.

(i.2) Đối với rủi ro tác nghiệp

Basel II định nghĩa “rủi ro tác nghiệp” là rủi ro xảy ra tổn thất do các quy trình, hệ thống hay con người trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc do các nguyên nhân bên ngoài. Đây là một trong những loại rủi ro quan trọng mà ngân hàng thường gặp phải trong quá trình hoạt động của mình.

Bản Hiệp ước mới đưa ra 3 phương pháp tính toán rủi ro tác nghiệp:

Phương pháp chỉ số cơ bản (BIA – The Basic Indicator Approach);

Phương pháp chuẩn hoá (The Standard Approach);

Phương pháp đo lường nâng cao (AMA – Advanced Measurement Approach).

Khi hoạt động của ngân hàng càng phức tạp thì cần phải áp dụng phương pháp có độ phức tạp cao hơn, đồng thời không cho phép các ngân hàng chuyển ngược trở lại phương pháp đơn giản một khi đã được chấp thuận sử dụng các phương pháp nâng cao. Ngược lại, nếu các ngân hàng được đánh giá là không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng phương pháp nâng cao thì cần phải quay trở về phương pháp cơ bản cho đến khi đáp ứng được những yêu cầu này.

(a). Phương pháp chỉ số cơ bản và phương pháp chuẩn hoá

Hai phương pháp này chủ yếu áp dụng đối với những ngân hàng không phải đối mặt với mức độ rủi ro tác nghiệp lớn do đặc điểm tính chất về nội dung hay phạm vi hoạt động. Tuy nhiên, để được phép áp dụng phương pháp chuẩn hoá, ngân hàng phải có hệ thống quản lý rủi ro tác nghiệp thoả mãn đầy đủ những yêu cầu tối thiểu quy định tại Basel II.

Cả hai phương pháp này đều đỏi hỏi ngân hàng phải duy trì số lượng vốn tương ứng với một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định so với tổng giá trị rủi ro tác nghiệp xác định được. Theo phương pháp chỉ số cơ bản, để tính toán số vốn tối thiểu cần đảm bảo đối với rủi ro tác nghiệp, ngân hàng lấy tổng thu nhập bình quân hàng năm trong 3 năm gần nhất nhân với hệ số 0,15 (hệ số này do Uỷ ban quy định).

KBIA = GI x α

Trong đó:

KBIA : Số vốn tối thiểu theo phương pháp Chỉ số cơ sở

GI : Tổng thu nhập bình quân hàng năm trong 3 năm gần nhất

α : Hệ số do Uỷ ban quy định, thể hiện mối tương quan giữa mức vốn tối thiểu chung của toàn hệ thống với mức chỉ số chung của toàn hệ thống.

Theo phương pháp chuẩn hoá, các nội dung hoạt động của ngân hàng được chia thành 8 lĩnh vực bao gồm: tài trợ doanh nghiệp, các hoạt động mua bán, hoạt động ngân hàng bán lẻ, hoạt động ngân hàng thương mại, dịch vụ thanh toán, dịch vụ đại lý, quản trị tài sản và môi giới bán lẻ. Ngân hàng sẽ tính toán số vốn tối thiểu cần đảm bảo cho từng lĩnh vực kinh doanh bằng cách nhân thu nhập thuần từ lĩnh vực kinh doanh đó với các hệ số tương ứng theo quy định của Uỷ ban Giám sát ngân hàng. Số vốn tối thiểu đối với rủi ro tác nghiệp của toàn ngân hàng sẽ bằng tổng vốn tối thiểu của từng ngành/lĩnh vực kinh doanh.

KTSA = ∑(GI1-8 x β1-8)

Trong đó:

: Số vốn tối thiểu theo phương pháp chuẩn hoá

: Tổng thu nhập bình quân hàng năm trong 3 năm gần nhất đối với từng lĩnh vực kinh doanh

β1-8 : Tỷ lệ cố định do Uỷ ban quy định, thể hiện mối tương quan giữa mức vốn cần có với mức thu nhập của từng lĩnh vực kinh doanh, cụ thể tại Bảng 1.3 như sau:

(b). Phương pháp đo lường nâng cao

Theo phương pháp đo lường nâng cao, mức vốn tối thiểu ngân hàng cần duy trì sẽ tương đương với mức rủi ro ngân hàng tính toán được bằng hệ thống đo lường rủi ro tác nghiệp nội bộ của mình. Hệ thống không chỉ thống kê thiệt hại bên trong và bên ngoài thực tế mà còn phân tích theo trình tự thời gian các yếu tố liên quan đến môi trường kinh doanh cũng như môi trường kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Tuy nhiên, để được áp dụng phương pháp đo lường nâng cao này, một ngân hàng phải thoả mãn các tiêu chí định lượng và định tính do Uỷ ban đặt ra và phải được cơ quan thanh tra giám sát chấp thuận. Ngoài ra, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cũng đã tổng kết 4 vấn đề chính bao hàm 10 nguyên tắc vàng trong quản trị rủi ro tác nghiệp và khuyến nghị các ngân hàng cần thực hiện như sau:

Thứ nhất: Tạo ra môi trường quản trị rủi ro phù hợp, gồm 3 nguyên tắc:

Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị nên được biết rõ các khía cạnh chính của ngân hàng, cung cấp một định nghĩa tổng thể cho toàn ngân hàng về rủi ro tác nghiệp, cũng như các nguyên tắc, cách xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro.

Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải bảo đảm rằng khung quản trị rủi ro tác nghiệp của ngân hàng là tùy thuộc vào hiệu quả của kiểm toán nội bộ. Kiểm toán nội bộ không nên trực tiếp chịu trách nhiệm về quản trị rủi ro tác nghiệp.

Nguyên tắc 3: Quản lý cấp cao phải có trách nhiệm triển khai thực hiện các khung quản trị rủi ro tác nghiệp được phê duyệt của Hội đồng quản trị. Khung phải được triển khai thực hiện nhất quán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng và tất cả các nhân viên nên hiểu rõ trách nhiệm của mình với việc quản trị rủi ro tác nghiệp.

Thứ hai: Quản trị rủi ro: xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát, gồm 4 nguyên tắc:

Nguyên tắc 4: Các ngân hàng cần xác định và đánh giá rủi ro tác nghiệp trong tất cả các rủi ro hiện có trong tất cả sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của ngân hàng.

Nguyên tắc 5: Các ngân hàng nên thực hiện một quy trình để thường xuyên giám sát mức độ ảnh hưởng và tổn thất do rủi ro tác nghiệp gây ra.

Nguyên tắc 6: Các ngân hàng nên có chính sách, quy trình và thủ tục để kiểm soát và đưa ra chương trình giảm thiểu rủi ro.

Nguyên tắc 7: Ngân hàng cần phải có kế hoạch duy trì kinh doanh đảm bảo khả năng hoạt động liên tục, hạn chế tổn thất trong trường hợp rủi ro xảy ra bất ngờ.

Thứ ba: Vai trò của cơ quan giám sát, được thực hiện thông qua hai nguyên tắc:

Nguyên tắc 8: Cơ quan giám sát ngân hàng nên yêu cầu tất cả các ngân hàng phải có một khung quản trị rủi ro tác nghiệp hiệu quả để xác định, đánh giá, giám sát và kiểm soát/giảm thiểu rủi ro tác nghiệp.

Nguyên tắc 9: Cơ quan giám sát phải chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên, độc lập đánh giá chính sách, thủ tục và thực tiễn liên quan đến rủi ro tác nghiệp của ngân hàng.

Thứ tư: Vai trò của việc công bố thông tin, gồm một nguyên tắc:

Nguyên tắc 10: Các ngân hàng cần phải thực hiện công bố đầy đủ và kịp thời thông tin để cho phép những người tham gia thị trường đánh giá khách quan.

Nếu thực hiện đúng và đủ các nguyên tắc trên, phù hợp với điều kiện thực tế của ngân hàng, công tác quản trị rủi ro tác nghiệp của ngân hàng sẽ đi theo chuẩn mực và thực hiện được mục tiêu mà ngân hàng dự kiến.

(i.3) Đối với rủi ro thị trƣờng

Rủi ro thị trường theo Ủy ban Basel đó là rủi ro xảy ra sự mất mát trong trạng thái giao dịch khi giá cả biến động thất thường. Thông thường, rủi ro thị trường sẽ gắn liền với bốn loại rủi ro cơ bản trên các giao dịch sổ sách là rủi ro lãi suất, trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa.

Vốn tự có theo quy định của Basel I bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Tuy nhiên, quy định của Basel II khi đánh giá rủi ro thị trường cho phép các ngân hàng tính thêm phần vốn cấp 3 gồm các khoản nợ ngắn hạn với mục đích dự trữ. Theo đó, ngân hàng chỉ được sử dụng vốn cấp 3 để đối phó với rủi ro thị trường, còn các loại rủi ro tín dụng và rủi ro gây ra từ phía đối tác chỉ được xem xét trong phạm vi vốn tự có theo quy định của Basel I. Vốn cấp 3 này bị giới hạn 250% vốn cấp 1 dùng để đối phó với rủi ro thị trường.

Việc tính toán yêu cầu vốn đối với rủi ro thị trường được thực hiện bằng cách lấy phần ước tính rủi ro thị trường nhân với 12,5 và cộng vào kết quả tổng tài sản có rủi ro tương ứng với rủi ro tín dụng. Rủi ro thị trường được đo lường phổ biến bằng giá trị VAR (value at risk).

(a) Phương pháp chuẩn

Yêu cầu vốn đối phó với rủi ro thị trường theo phương pháp chuẩn sẽ được xem xét đối với từng yếu tố rủi ro bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa. Các quy định cụ thể về cách tính toán yêu cầu vốn tối thiểu đối phó với bốn loại rủi ro này theo phương pháp chuẩn được quy định chi tiết trong phần A (từ A1 đến A5) của tài liệu “Amendment to the Capital Accord to incorporate market risks – Bản sửa đổi Hiệp ước vốn để đưa rủi ro thị trường vào” do Ủy ban Basel thông qua vào tháng 11 năm 2005. Đối với rủi ro tỷ giá, các ngân hàng sẽ theo dõi trạng thái ròng đối với mỗi loại tiền bằng cách tổng hợp trạng thái các giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch bảo đảm, vị thế thu nhập/chi phí của giao dịch giao sau…

(b) Phương pháp mô hình nội bộ

Để có thể sử dụng phương pháp mô hình nội bộ khi đánh giá rủi ro thị trường, các ngân hàng thương mại cần được sự chấp thuận từ phía cơ quan giám sát ngân hàng. Yêu cầu tối thiểu mà mỗi ngân hàng phải đáp ứng bao gồm:

Phải có hệ thống quản trị rủi ro tương thích, hiện đại và đầy đủ dữ liệu cần thiết.

Có đủ số lượng chuyên viên được trang bị kỹ năng sử dụng các mô hình phức tạp không chỉ trong giao dịch mà còn trong quản trị rủi ro, kiểm toán.

Mô hình của ngân hàng được cơ quan giám sát đánh giá có chất lượng, đã qua kiểm định về tính hợp lý và chính xác khi đo lường rủi ro. Một khi đã được chấp thuận thực hiện phương pháp mô hình nội bộ, các ngân hàng sẽ xây dựng mô hình quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn như:

Đối với rủi ro lãi suất, phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất của mỗi đồng tiền liên quan đến danh mục đầu tư của ngân hàng trên cơ sở nhạy cảm rủi ro lãi suất kể cả các khoản mục trong và ngoài bảng cân đối kế toán.

Đối với rủi ro tỷ giá (bao gồm cả biến động giá vàng), hệ thống quản trị rủi ro phải kết hợp các nhân tố rủi ro liên quan đến từng loại tiền riêng lẻ.

Đối với sự biến động giá cả của các loại hàng hóa: ít nhất phải thiết kế được hệ thống theo dõi biến động giá cả loại hàng hóa đó trên phạm vi thế giới, vị thế mua bán hoặc lời lỗ đối với từng giao dịch liên quan đến sự biến động này.

Trên cơ sở những tiêu chuẩn về mô hình quản trị rủi ro này, các ngân hàng sẽ xác định được giá trị tại rủi ro VAR của mỗi giao dịch, của các danh mục và của toàn bộ hoạt động ngân hàng. Độ tin cậy của việc tính toán này theo yêu cầu phải đạt tối thiểu 99%.

(i.4) Đối với rủi ro thanh khoản

Mặc dù theo quan điểm của Basel, rủi ro thanh khoản không được đưa vào công thức xác định tỷ lệ yêu cầu vốn tối thiểu, song, Ủy ban Basel cũng đưa ra khuôn khổ cho việc đo lường và quản lý rủi ro thanh khoản với những nguyên tắc cụ thể, giúp việc quản lý rủi ro thanh khoản được thực hiện một cách hiệu quả.

Đến thời điểm hiện tại (2012), nền kinh tế thế giới vẫn chưa vượt qua khỏi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề, mà khởi thủy của nó bắt đầu từ hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó rủi ro thanh khoản là nội dung cốt lõi. Để tăng cường năng lực của các cơ quan giám sát ngân hàng của các nước thành viên BIS, cũng như giới thiệu một cơ chế mới giúp các NHTM quản lý tốt hơn rủi ro thanh khoản của mình, BIS đưa ra “Những nguyên tắc để quản trị và giám sát rủi ro thanh khoản một cách chắc chắn – Principles for Sound Liquidity Risk Management and Supervision, September 2008”, trong đó đề ra 17 nguyên tắc bao gồm:

Nhóm nguyên tắc cơ bản

(1) Nguyên tắc 1: Ngân hàng phải có trách nhiệm quản lý một cách chắc chắn rủi ro thanh khoản của mình, phải xây dựng cho mình một khuôn khổ quản trị rủi ro đủ mạnh để đảm bảo rằng lúc nào cũng phải có đủ thanh khoản và các tài sản

Có lỏng chất lượng cao (high quality liquid assets) để vượt qua những tình huống khó khăn, kể cả trong tình huống có sự tổn thất lớn của cả nguồn vốn bảo đảm lẫn nguồn vốn không bảo đảm.

Nhóm các nguyên tắc về hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản

(2) Nguyên tắc 2: Ngân hàng phải công bố mức độ chấp nhận rủi ro thanh khoản của mình theo chiến lược kinh doanh cũng như phù hợp với vị thế của ngân hàng trong hệ thống tài chính quốc gia.

(3) Nguyên tắc 3: Ban lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng có trách nhiệm xây dựng chiến lược, chính sách và cơ chế quản lý rủi ro thanh khoản phù hợp với mức

độ chấp nhận rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Hội đồng quản trị là đơn vị rà soát, phê duyệt và giám sát quá trình thực hiện các cơ chế đó.

(4) Nguyên tắc 4: Ngân hàng phải đưa các yếu tố chi phí thanh khoản cũng như tính toán lợi nhuận và rủi ro thanh khoản vào trong quá trình xác định giá bán dịch vụ, trong đánh giá hiệu quả và phát triển sản phẩm mới đối với tất cả các mảng hoạt động quan trọng của ngân hàng.

iii. Nhóm nguyên tắc về tính toán, đo lường và quản lý rủi ro thanh khoản

(5) Nguyên tắc 5: Ngân hàng phải trang bị cho mình một hệ thống xác định, tính toán, đo lường, giám sát và kiểm soát hiệu quả rủi ro thanh khoản. Hệ thống này phải đảm bảo tính toán được dự báo dòng tiền từ lượng tài sản Có, tài sản Nợ cũng như các khoản mục ngoại bảng.

(6) Nguyên tắc 6: Hệ thống quản lý rủi ro thanh khoản của ngân hàng cần có khả năng thực hiện quản lý mức độ rủi ro thanh khoản cũng như nhu cầu vốn của bản thân và giữa các đơn vị kinh doanh nội bộ với nhau.

(7) Nguyên tắc 7: Chính sách quản lý nguồn vốn phải đa dạng hóa về loại vốn và kỳ hạn vốn. Đồng thời, phải chủ động, linh hoạt trong công tác quản lý vốn

đảm bảo có quyết định lựa chọn thị trường vốn phù hợp, mối quan hệ bền chặt và khả năng huy động vốn nhanh trong trường hợp cần thiết.

(8) Nguyên tắc 8: Quản lý rủi ro thanh khoản phải đảm bảo quản lý được trạng thái thanh khoản và rủi ro thanh khoản ngay trong một ngày giao dịch.

(9) Nguyên tắc 9: Ngân hàng phải hoàn toàn kiểm soát được tình trạng tài sản bảo đảm mình đang nắm giữ, phân biệt rõ ràng giữa tài sản bảo đảm riêng và tài sản bảo đảm chung.

(10) Nguyên tắc 10: Trong quản lý rủi ro thanh khoản cần thiết phải tiến

hành thường xuyên các bài Kiểm tra phản ứng khủng hoảng (stress test) nhằm xác định khả năng và nguy cơ xảy ra đổ vỡ thanh khoản.

(11) Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải lập cho mình một Kế hoạch dự phòng huy động vốn (Contingency Funding Plan) nhằm chỉ rõ phương thức giải quyết các vấn đề thiếu thanh khoản khẩn cấp.

(12) Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải luôn đảm bảo cho mình có một lớp Đệm tài sản đảm bảo riêng chất lượng cao đóng vai trò như khoản bảo hiểm cho các tình huống căng thẳng thanh khoản. Những tài sản này tuyệt đối không được sử dụng trong việc huy động vốn mở rộng (ví dụ: chứng khoán hóa…)

Nhóm nguyên tắc về công bố thông tin

(13) Nguyên tắc 13: Ngân hàng phải định kỳ công bố thông tin về bản thân mình để công chúng biết về trạng thái thanh khoản cũng như năng lực quản trị rủi ro thanh khoản.

Nhóm nguyên tắc về giám sát (đối với các cơ quan giám sát ngân hàng)

Nguyên tắc 14, Nguyên tắc 15, Nguyên tắc 16 và Nguyên tắc 17: Cơ quan giám sát ngân hàng phải thường xuyên đánh giá, theo dõi trạng thái thanh khoản cũng như hiệu quả của khuôn khổ quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Trong trường hợp ngân hàng có thiếu hụt thanh khoản, cần can thiệp ngay và yêu cầu ngân hàng phải có các biện pháp khắc phục. Để tạo minh bạch thông tin, cơ quan giám sát cần có kênh thông tin liên lạc, trao đổi thường xuyên với các cơ quan chức năng khác có thẩm quyền.

(ii) Trụ cột thứ hai: Quy trình rà soát, giám sát

Trụ cột thứ hai của Hiệp ước mới về vốn dựa trên một loạt các hướng dẫn chi tiết, trong đó nêu rõ sự cần thiết về phía ngân hàng phải đánh giá vốn trong mối tương quan với mức độ rủi ro chung của mình, và về phía cơ quan thanh tra, giám sát phải xem xét kết quả đánh giá này và có những biện pháp thích hợp trong trường hợp cần thiết. Mục đích của việc này là nhằm không những đảm bảo ngân hàng có đủ vốn để bù đắp rủi ro trong hoạt động kinh doanh, mà còn khuyến khích ngân hàng xây dựng và áp dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn.

Cơ quan thanh tra cần thẩm định mức độ chính xác trong kết quả đánh giá của ngân hàng về nhu cầu vốn so với rủi ro, đồng thời có biện pháp can thiệp khi cần thiết. Quan hệ tương tác qua lại như vậy sẽ góp phần tăng cường hơn nữa đối thoại tích cực giữa ngân hàng và cơ quan quản lý, từ đó có thể nhanh chóng xác định những vấn đề tiềm ẩn và nhanh chóng áp dụng những biện pháp cần thiết để giảm rủi ro hoặc khôi phục nguồn vốn.

Ngoài nội dung quan trọng của Trụ cột thứ hai là đánh giá việc tuân thủ thường xuyên các chuẩn mực tối thiểu và yêu cầu công bố thông tin đối với ngân hàng, có 3 lĩnh vực khác cần chú ý: những loại rủi ro chưa được giải quyết tại Trụ cột thứ nhất (Ví dụ: rủi ro tập trung tín dụng); những yếu tố chưa được đề cập đến tại Trụ cột thứ nhất (Ví dụ: rủi ro lãi suất, rủi ro chiến lược); và những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến ngân hàng (Ví dụ: tác động của chu kỳ kinh doanh).

Hoạt động giám sát theo quy định tại Trụ cột thứ hai cần đảm bảo tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:

Nguyên tắc thứ nhất

Ngân hàng cần đặt ra quy trình đánh giá mức vốn của ngân hàng trong mối tương quan với những rủi ro tiềm ẩn, đồng thời có chiến lược duy trì mức vốn tối thiểu đó. Quy trình nói trên có 5 điểm chính

  • Hoạt động giám sát của HĐQT và ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng;
  • Đánh giá thận trọng mức vốn tối thiểu;
  • Đánh giá toàn diện các loại hình rủi ro;
  • Chế độ kiểm tra và báo cáo;
  • Đánh giá của hệ thống kiểm soát nội bộ.

Nguyên tắc thứ hai

Cơ quan thanh tra phải định kỳ thường xuyên đánh giá chính sách của ngân hàng về vốn, sự tuân thủ của ngân hàng đối với các tỷ lệ vốn pháp định. Cơ quan thanh tra cũng phải kịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết nếu phát hiện những bất cập trong quá trình đánh giá.

Nguyên tắc thứ ba

Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của thị trường, cơ quan thanh tra được quyền yêu cầu ngân hàng duy trì vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định.

Nguyên tắc thứ tư

Cơ quan thanh tra cần can thiệp sớm nhằm ngăn ngừa tình trạng vốn của ngân hàng giảm xuống thấp hơn mức tối thiểu. Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà cơ quan thanh tra có thể cân nhắc áp dụng các công cụ như tăng cường giám sát trực tiếp ngân hàng, giới hạn chi trả cổ tức, yêu cầu ngân hàng xây dựng kế hoạch khôi phục lại mức vốn tối thiểu theo quy định hoặc buộc ngân hàng phải tăng vốn ngay.

Nguyên tắc thứ năm

Cơ quan thanh tra phải đảm bảo thực hiện chức năng giám sát của mình theo quy định tại Trụ cột thứ hai một cách minh bạch và với trách nhiệm cao. Các tiêu chí mà cơ quan thanh tra sử dụng để đánh giá ngân hàng cần được công khai. Ngay cả khi yêu cầu một ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định, cơ quan thanh tra cũng cần nêu rõ lý do.

(iii) Trụ cột thứ ba: Nguyên tắc thị trường

Mục đích của Trụ cột thứ ba “Nguyên tắc thị trường” trong bản Hiệp ước mới là nhằm bổ sung cho các yêu cầu về vốn tối thiểu tại trụ cột thứ nhất và về vai trò của cơ quan thanh tra ở trụ cột thứ hai. Một đặc điểm quan trọng của Hiệp ước mới về vốn là các ngân hàng được trao nhiều quyền chủ động hơn trong việc xác định nhu cầu vốn của mình dựa trên các hệ thống đánh giá nội bộ. Do vậy, nguyên tắc thị trường trong trụ cột thứ ba của bản Hiệp ước mới sẽ giúp các thành viên tham gia thị trường có điều kiện đánh giá tốt hơn thông tin về mức độ rủi ro và quy mô vốn của ngân hàng, qua đó tạo điều kiện để ngân hàng và cơ quan thanh tra quản lý rủi ro hiệu quả hơn, nâng cao hơn nữa mức độ ổn định của từng ngân hàng nói riêng và của hệ thống ngân hàng nói chung.

Yêu cầu chung về công bố thông tin

Cơ quan thanh tra giám sát từng nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khác nhau để bắt buộc các ngân hàng thực hiện yêu cầu công bố thông tin quy định tại bản Hiệp ước Basel II. Nội dung của từng biện pháp cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, ví dụ như: vị thế pháp lý của cơ quan thanh tra từng nước, thực trạng hoạt động công khai thông tin của ngân hàng nước đó…

Các yêu cầu về công bố thông tin không mâu thuẫn với chuẩn mực kế toán hiện hành. Ví dụ: đối với những thông tin phải công khai theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán hoặc theo yêu cầu của một cơ quan có thẩm quyền khác thì ngân hàng có thể sử dụng chính những thông tin này để đáp ứng yêu cầu tại trụ cột thứ ba của Basel II. Khi đó, ngân hàng chỉ cần nêu rõ những khác biệt đáng kể giữa thông tin công khai theo yêu cầu của Basel II và của các cơ quan chức năng khác.

Thông tin cần được công bố theo định kỳ nửa năm, trừ một số trường hợp, ví dụ như: Các thông tin mang tính chất định tính nhằm trình bày khái quát về mục tiêu và chính sách quản lý rủi ro của ngân hàng, về hệ thống báo cáo, công bố định kỳ hàng năm,…Các ngân hàng hoạt động trên phạm vi quốc tế và các ngân hàng quy mô lớn khác phải công khai thông tin về vốn cấp 1 và các tỷ lệ vốn tối thiểu theo định kỳ hàng quý.

Nếu một số thông tin cần công khai theo yêu cầu tại Trụ cột thứ ba lại mang tính chất độc quyền hay tuyệt mật, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến vị thế và hoạt động của ngân hàng thì ngân hàng không cần thiết phải công bố chi tiết về những thông tin đó. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn phải cung cấp những thông tin chung có liên quan, đồng thời giải thích rõ lý do không thực hiện theo yêu cầu của Basel II.

Yêu cầu cụ thể về công bố thông tin

Theo Hiệp ước Basel II, để tăng cường hơn nữa vai trò của thị trường trong việc đảm bảo hoạt động an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng, Uỷ ban Giám sát ngân hàng yêu cầu các ngân hàng phải công khai thông tin về cơ cấu vốn, mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng và chính sách quản lý rủi ro, các biện pháp hạn chế rủi ro… Đối với từng nội dung thông tin cần công khai, Uỷ ban Giám sát ngân hàng lại đưa ra những yêu cầu khác nhau mang tính chất định lượng và định tính.

Ví dụ, đối với cơ cấu vốn, ngân hàng phải nêu:

Về mặt định tính: thông tin tóm tắt về đặc điểm cơ bản của các công cụ vốn.

Về mặt định lượng:

  • Vốn cấp 1, trong đó công khai thông tin riêng về từng khoản mục.
  • Tổng vốn cấp 2 và cấp 3; Các khoản phải trừ khỏi vốn cấp 1 và cấp 2.
  • Tổng giá trị vốn đủ tiêu chuẩn.

Tóm lại, Hiệp ước Basel II đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của các yêu cầu về vốn và trong nhận thức về thanh tra giám sát các ngân hàng lớn. Những thay đổi này vượt ra khỏi phạm vi các tổ chức hoạt động ngân hàng lớn, và vì vậy, tạo ra sự quan tâm của các thành viên tham gia thị trường khác nhau.

4.2.3. Nội dung quản trị rủi ro trong kinh doanh của NHTM theo Hiệp ước Basel III

Hiệp ước Basel III sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Hiệp ước Basel II trong đó tăng cường yêu cầu về vốn của ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Tổ chức OECD ước tính rằng việc thực hiện Basel III sẽ giảm tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm khoảng từ 0,05% – 0,15%. Các tiêu chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi ngân hàng giữ vốn nhiều hơn và có chất lượng vốn cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành của Hiệp ước Basel II. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung trong Hiệp ước Basel III như sau:

(i) Tỷ lệ cổ phần phổ thông

Cải cách lần này của Ủy ban Basel đã tăng tỷ lệ cổ phần phổ thông (common equity – ở một số nước có thể coi là vốn điều lệ) tối thiểu từ 2% lên đến 4,5% trên tổng tài sản Có của ngân hàng. Trong khi đó, yêu cầu về tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu (bao gồm cổ phần phổ thông và các công cụ tài chính có giá khác) cũng tăng từ 4% lên đến 6%; tỷ lệ tổng nguồn vốn tối thiểu được giữ nguyên ở mức 8% trên tổng tài sản Có của ngân hàng. Quy định này của Basel III sẽ giúp các ngân hàng nâng cao chất lượng vốn của mình một cách đáng kể. Chất lượng vốn tốt hơn đồng nghĩa với khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn và giúp cho ngân hàng chống đỡ tốt hơn trong thời kỳ khó khăn.

(ii) Vốn đệm bảo toàn vốn

Quy định mới về vốn của Basel đã bổ sung yêu cầu về vốn đệm bảo toàn vốn (capital conservation buffer), yêu cầu tỷ lệ vốn đệm bảo toàn vốn là 2,5% và được lấy từ nguồn vốn cổ phần phổ thông. Mục đích của việc thành lập vốn đệm bảo toàn vốn nhằm đảm bảo các ngân hàng duy trì mức vốn dự phòng cần thiết để bù đắp cho các khoản lỗ trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế – tài chính. Do vậy, quy định mới về vốn của Ủy ban Basel tạo nên một cơ chế sử dụng vốn dự trữ như sau: trong khi các ngân hàng được phép sử dụng vốn đệm bảo toàn vốn trong suốt thời kỳ khủng hoảng thì quy định chặt chẽ hơn về các tỷ lệ vốn tối thiểu sẽ khiến việc phân chia lợi nhuận của các ngân hàng bị hạn chế hơn. Khuôn khổ này sẽ củng cố thêm mục tiêu về giám sát và quản trị ngân hàng một cách lành mạnh, hạn chế các ngân hàng trong việc phân chia lợi nhuận quá cao, như các khoản thưởng tùy ý hoặc tỷ lệ chi trả cổ tức cao, ngay cả khi vị thế vốn của ngân hàng đó đang xấu đi.

(iii) Vốn đệm chống chu kỳ kinh tế

Bên cạnh vốn đệm bảo toàn vốn, quy định mới cũng bổ sung yêu cầu về dự phòng vốn đệm chống chu kỳ kinh tế (countercyclical buffer) với tỷ lệ trong khoảng 0% – 2,5%. Theo quy định mới này, nguồn vốn dự phòng vốn đệm chống chu kỳ kinh tế sẽ được lấy từ cổ phần phổ thông của ngân hàng hoặc các nguồn vốn khác được sử dụng để bù đắp các khoản lỗ. Tuy nhiên, dự phòng vốn đệm chống chu kỳ kinh tế được thực hiện hay không tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia. Mục đích của dự phòng vốn đệm chống chu kỳ kinh tế là nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ hệ thống ngân hàng trong giai đoạn tín dụng tăng trưởng nóng ở mức độ vĩ mô và rộng lớn hơn. Đối với một quốc gia nhất định, dự phòng vốn đệm chống chu kỳ kinh tế chỉ phát huy tác dụng khi tín dụng tăng trưởng nóng dẫn tới kết quả là cả hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro. Như vậy, dự phòng vốn đệm chống chu kỳ kinh tế có thể được coi là một sự mở rộng của vốn đệm bảo toàn vốn.

(iv) Tỷ lệ bảo đảm thanh khoản và tỷ lệ dự phòng bình ổn

Hiệp ước Basel III đã đưa ra tiêu chuẩn quốc tế về tính thanh khoản tối thiểu cho hoạt động ngân hàng bao gồm yêu cầu Tỷ lệ bảo đảm thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio – LCR) và Tỷ lệ nguồn vốn ổn định thuần (The Net Stable Funding Ratio – NSFR) (trích dẫn Basel Committee on Banking Supervision 2010). Ủy ban cũng đang xem xét lại nhu cầu vốn bổ sung, thanh khoản và các biện pháp giám sát khác để làm giảm yếu tố tác động bên ngoài tạo ra bởi các tổ chức quan trọng được thành lập có hệ thống.

Tỷ lệ bảo đảm thanh khoản được đưa ra nhằm mục đích đảm bảo rằng ngân hàng luôn duy trì một mức độ nhất định tài sản có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển thành tiền mặt nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong thời hạn 30 ngày khi cơ quan giám sát ngân hàng yêu cầu trong trường hợp ngân hàng đang có dấu hiệu khó khăn thanh khoản. Ủy ban Basel đưa ra khoảng thời gian 30 ngày là khoảng thời gian tối thiểu để cơ quan giám sát hoặc những nhà quản lý ngân hàng có những quyết định hợp lý đối với nhóm tài sản có tính thanh khoản cao, giúp ngân hàng thoát khỏi tình trạng khó khăn thanh khoản.

LCR = Tổng tài sản có tính thanh khoản cao/ tổng luồng tiền mặt ròng cho 30 ngày tiếp theo

Basel III yêu cầu LCR ≥ 100%.

NSFR = Tổng nguồn vốn ổn định hiện có/ tổng nguồn vốn ổn định yêu cầu

Basel III yêu cầu NSFR > 100%.

Tóm lại: Basel III với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn cao hơn cùng với phương pháp giám sát an toàn vĩ mô là sự thay đổi lịch sử trong quy định về hoạt động ngân hàng. Ủy ban Basel cùng các nhà lãnh đạo các nước G20 đã thống nhất rằng cuộc cải tổ này sẽ được triển khai sao cho không ảnh hưởng tới tốc độ phục hồi kinh tế của các nước. Ngoài ra, sẽ cần có thời gian để đưa những tiêu chuẩn quốc tế mới vào những quy định riêng của các quốc gia. Theo đó, các nước thành viên Basel sẽ bắt đầu thực hiện lộ trình chuyển đổi các tiêu chuẩn về vốn mới từ ngày 01/01/2013, đồng nghĩa với việc các nước này sẽ phải chuyển đổi các tiêu chuẩn nói trên thành luật hay các quy định quốc gia trước thời điểm 01/01/2013.

Trên đây là những tài liệu và kiến thức mà Luận văn 1080 tổng hợp đươc về Ngân hàng thương mại và quản trị rủi ro trong kinh doanh NHTM theo hiệp ước Basel. Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm thuê luận văn.

Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.