Lý luận chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Kế toán
Lý luận chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
5/5 (2 đánh giá) 3 bình luận

Giới thiệu chung về các lý thuyết của công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất cũng như các cách phân loại và đánh giá nguyên vật liệu trong kế toán nguyên vật liệu.

1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu

1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu.

Nguyên vật liệu thuộc loại hàng tồn kho của doanh nghiệp và là những đối tượng lao động được thể hiện dưới dạng vật hoá. Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ giá trị nguyên vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Nguyên vật liệu có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, về mặt vốn: nguyên vật liệu là thành phần quan trọng của vốn lưu động, đặc biệt là vốn dự trữ của doanh nghiệp. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần phải tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và điều đó không thể tách rời việc dự trữ, sử dụng nguyên vật liệu một cách hiệu quả và hợp lý.

Thứ hai, về mặt giá trị: khác với tư liệu lao động, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ, không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Bên cạnh đó vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng rất quan trọng: Đối với doanh nghiệp sản xuất, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và trong giá thành sản phẩm.

Chính vì vậy cả số lượng và chất lượng của sản phẩm đều bị chi phối bởi số nguyên vật liệu tạo ra nó. Nguyên vật liệu có đảm bảo chất lượng cao, đúng qui cách, chủng loại thì chi phí về nguyên vật liệu mới được hạ thấp, từ đó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, giá thành sản phẩm hạ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Xuất phát từ đặc điểm, vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình SXKD đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu ở tất cả các khâu từ thu mua, bảo quản, dự trữ cho đến khi xuất dùng nguyên vật liệu để tránh lãng phí, giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng tốc độ lưu chuyển vốn lưu động, hạ giá thành sản phẩm. Trong một chừng mực nhất định, giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu nhằm tiết kiệm tối đa chi phí nguyên vật liệu trong sản xuất còn là cơ sở tăng thêm sản phẩm xã hội.

1.2. Yêu cầu trong quản lý nguyên vật liệu.

Quản lý nguyên vật liệu là yếu tố khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên do trình độ sản xuất khác nhau trên phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý cũng khác nhau. Xã hội ngày càng phát triển thì các phương pháp quản lý cũng phải phát triển và hoàn thiện hơn. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp sản xuất là làm thế nào để thu được nhiều lợi nhuận mà vẫn giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này đòi doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong tất cả các khâu nhằm sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu để cùng một khối lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất, giá thành hạ mà vẫn đảm bảo chất lượng.

Để làm được điều đó doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu trên các khía cạnh sau: Khâu thu mua: Nguyên vật liệu phải được quản lý về khối lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí thu mua. Đồng thời phải quản lý việc lập kế hoạch, mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Khâu bảo quản: Doanh nghiệp phải có đầy đủ kho tàng để bảo quản nguyên vật liệu, kho phải được trang bị các phương tiện bảo quản, cân, đo, đong đếm cần thiết; phải bố trí thủ kho và nhân viên bảo quản có nghiệp vụ thích hợp. Việc bố trí, sắp xếp nguyên vật liệu trong kho phải theo đúng yêu cầu kỹ thuật và bảo quản, thuận tiện cho việc nhập, xuất và theo dõi kiểm tra. Khâu sử dụng: Việc xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu là điều kiện quan trọng để tổ chức quản lý và kế toán nguyên vật liệu.

Cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu. Trên cơ sở đó so sánh với các định mức, dự toán chi phí, đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Từ đó tìm ra biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tăng thu nhập và tích luỹ cho doanh nghiệp. Khâu dự trữ: Doanh nghiệp phải xây dựng định mức dự trữ, xác định rõ giới hạn dự trữ tối thiểu, tối đa để có căn cứ phòng ngừa các trường hợp thiếu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất hoặc dự trữ nguyên vật liệu quá nhiều gây ứ đọng vốn.

1.3. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu.

Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu là điều kiện quan trọng không thể thiếu được để quản lý nguyên vật liệu, thúc đẩy việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, đồng bộ những nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, tiết kiệm, ngăn ngừa các hiện tượng hư hao, mất mát và lãng phí nguyên vật liệu trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.

Để đáp ứng được các yêu cầu quản lý, kế toán nguyên vật liệu cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Tổ chức đánh giá, phân loại nguyên vật liệu phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp. Ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời số lượng, chất lượng và giá thành thực tế của nguyên vật liệu nhập kho. Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu xuất kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao nguyên vật liệu. Phân bổ hợp lý giá trị nguyên vật liệu sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh.

Tham gia kiểm kê nguyên vật liệu, tính toán và phản ánh chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu tồn kho, phát hiện kịp thời nguyên vật liệu thiếu, thừa, ứ đọng, kém phẩm chất để doanh nghiệp có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế đến mức tối đa thiệt hại có thể xảy ra. Thực hiện phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.

>>> Tham khảo thêm các tài liệu luận văn kế toán khác: Cơ sở lý luận chung về kế toán vốn bằng tiền

2. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu.

2.1. Phân loại nguyên vật liệu.

Nguyên vật liệu sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ có vai trò công dụng hết sức khác nhau trong quá trình SXKD. Trong điều kiện đó đòi hỏi phải phân loại nguyên vật liệu thì mới tổ chức tốt việc quản lý nguyên vật liệu. Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp các nguyên vật liệu cùng loại với nhau theo một đặc trưng nhất định nào đó thành từng nhóm để thuận lợi cho việc quản lý. Trong thực tế của công tác quản lý ở các doanh nghiệp, đặc trưng dùng để phân loại nguyên vật liệu thông dụng nhất là căn cứ vào vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất. Theo đặc trưng này nguyên vật liệu ở các doanh nghiệp được phân ra các loại sau đây:

Nguyên vật liệu chính: Là những nguyên vật liệu sau quá trình gia công chế biến cấu thành hình thái vật chất chủ yếu của sản phẩm như sắt, thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí; sợi trong nhà máy dệt; vải trong doanh nghiệp may… Đối với bán thành phẩm mua ngoài như sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được coi là nguyên liệu chính.

Nguyên vật liệu phụ: là những nguyên liệu có tác dụng phụ trợ trong quá trình sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng chất lượng của sản phẩm như các loại thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn, xà phòng, hương liệu; hoặc sử dụng để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường như dầu nhờn, giẻ lau; hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý.

Nhiên liệu: là những thứ nguyên vật liệu dùng để tạo ra nhiệt lượng như than đá, than bùn, củi (nhiên liệu rắn), xăng, dầu (nhiên liệu lỏng). Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại nguyên vật liệu phụ, tuy nhiên nó được tách ra thành một loại riêng vì có yêu cầu kỹ thuật, quản lý hoàn toàn khác với các nguyên vật liệu phụ thông thường.

Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng được dùng để sửa chữa và thay thế máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải… Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản: bao gồm các loại nguyên vật liệu và thiết bị (cần lắp, không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ…) mà doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản.

Phế liệu: là những loại nguyên vật liệu thu hồi từ quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản, có thể sử dụng lại hoặc bán ra ngoài (phoi bào, vải vụn, bông rối, gạch, sắt..)

Nguyên vật liệu khác: Bao gồm các loại nguyên vật liệu còn lại ngoài các thứ đã kể trên như bao bì, vật đóng gói, các loại nguyên liệu đặc chủng… Cách phân loại nguyên vật liệu như trên là dựa vào vai trò của chúng trong quá trình SXKD, tuy nhiên cũng có trường hợp một loại nguyên vật liệu ở một doanh nghiệp có lúc được sử dụng như nguyên vật liệu chính có lúc lại được sử dụng như nguyên vật liệu phụ. Do đó, doanh nghiệp có thể căn cứ vào mục đích, công dụng chính của nguyên vật liệu cũng như nội dung qui định phản ánh chi phí nguyên vật liệu trên tài khoản kế toán để phân loại nguyên vật liệu, theo đó nguyên vật liệu được chia thành:

Nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất: Là các nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm.

Bao gồm:

+ Nguyên vật liệu trực tiếp: Là các loại nguyên vật liệu tiêu hao trực tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm.

+ Nguyên vật liệu gián tiếp: Là các loại nguyên vật liệu tiêu hao gián tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm (thường là các loại dầu, mỡ bảo dưỡng máy móc thiết bị).

Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: Phục vụ quản lý ở các phân xưởng sản xuất, đội sản xuất, phục vụ bán hàng, quản lý doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình sử dụng nguyên vật liệu tại các bộ phận, từ đó có biện pháp điều chỉnh, cân đối cho phù hợp với kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nếu căn cứ vào nguồn nhập, nguyên vật liệu của doanh nghiệp được chia thành: Nguyên vật liệu mua ngoài: Là những nguyên vật liệu sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh được mua ngoài thị trường.

Nguyên vật liệu tự chế hoặc thuê ngoài gia công chế biến: Là các nguyên vật liệu do doanh nghiệp chế biến hoặc thuê ngoài gia công để phục vụ sản xuất. Nguyên vật liệu thu từ nguồn khác: là nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh hoặc được tăng, thưởng cấp phát. Cách phân loại này tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu trong sản xuất, phản ánh chính xác số hiện có và tình hình biến động nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể căn cứ vào quyền sở hữu để phân loại nguyên vật liệu thành: Nguyên vật liệu thuộc sở hữu của doanh nghiệp: Gồm các loại nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự sản xuất, mua ngoài đã thành toán hoặc chấp nhận thanh toán. Nguyên vật liệu không thuộc sở hữu của doanh nghiệp: Gồm các nguyên vật liệu nhận gia công, chế biến hay nhận giữ hộ. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp theo dõi và nắm bắt được tình hình thực hiện có của nguyên vật liệu từ đó có kế hoạch thu mua và dự trữ nguyên vật liệu hợp lý.

Tuy nhiên để đảm bảo nhu cầu nguyên vật liệu cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được thường xuyên, liên tục và quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ cần phải nhận biết một cách cụ thể về số hiện có và tình hình biến động của từng nguyên vật liệu. Bởi vậy các loại nguyên vật liệu cần phải được phân chia một cách tỷ mỉ hơn theo tính năng lý hoá, theo qui định phẩm chất của nguyên vật liệu.

Việc phân chia này được thực hiện trên cơ sở xây dựng và lập “ Sổ danh điểm nguyên vật liệu”, trong đó nguyên vật liệu được chia thành loại, nhóm, thứ và mỗi loại nhóm thứ được sử dụng một ký hiệu riêng gọi là số danh điểm nguyên vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý nguyên vật liệu.

2.2. Đánh giá nguyên vật liệu

Đánh giá nguyên vật liệu là xác định giá trị của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định. Theo quy định hiện hành, kế toán xuất, tồn kho nguyên vật phải phản ánh theo giá thực tế. Tuy nhiên, tại một số doanh nghiệp do đặc điểm của nguyên vật liệu cũng như để đơn giản và giảm bớt khối lượng tính toán, ghi chép hàng ngày, kế toán sử dụng giá hạch toán để hạch toán nguyên vật liệu.

Giá thực tế của nguyên vật liệu là loại giá được hình thành trên cơ sở các chứng từ hợp lệ chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra nguyên vật liệu. Giá thực tế của nguyên vật liệu là cơ sở pháp lý để phản ánh tình hình luân chuyển nguyên vật liệu.

2.2.1.  Giá thực tế nhập kho:

Trong các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau do đó giá thực tế của chúng cũng khác nhau. Về nguyên tắc, giá nguyên vật liệu nhập kho được xác định theo giá thực tế bao gồm toàn bộ chi phí hình thành nguyên vật liệu đó cho đến lúc nhập kho. Tuỳ theo từng nguồn nhập mà giá thực tế của nguyên vật liệu được đánh giá khác nhau:

Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến:

Giá thực tế Các chi phí liên quan NVL thuê gia công = NVL xuất thuê + (tiền thuê gia công, chế nhập kho trong kỳ gia công chế biến biến; chi phí vận chuyển; hao hụt trong định mức). Đối với nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh, cổ phần thì giá thực tế là giá do các bên tham gia liên doanh đánh giá cộng với các chi phí tiếp nhận (nếu có).

Đối với phế liệu: Giá thực tế là giá ước tính có thể sử dụng được hay giá trị thu hồi tối thiểu. Đối với nguyên vật liệu được tặng thưởng: Giá thực tế được tính là giá của nguyên vật liệu đó ghi trên biên bản bàn giao hoặc theo giá trị nguyên vật liệu tặng thưởng tương đương với giá trị thường.

2.2.2.Giá thực tế xuất kho.

Khi xuất kho nguyên vật liệu để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán phải tính toán, xác định chính xác giá thực tế của nguyên vật liệu xuất cho các nhu cầu khác nhau nhằm xác định chính xác chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Để tính giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:

Phương pháp giá đích danh (Phương pháp nhận diện)

Theo phương pháp này, giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho được tính trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho của chính lô nguyên vật liệu xuất kho đó. Phương pháp này thích hợp với những loại nguyên vật liệu đặc chủng, có giá trị lớn và nhận diện được.

Phương pháp này thể hiện được thực tế tương xứng phù hợp giữa doanh thu và chi phí của hàng bán ra. Tuy nhiên, phương pháp này phải theo dõi chi tiết giá nguyên vật liệu mỗi lần nhập kho vì vậy khó thực hiện đối với số lượng nguyên vật liệu lớn. Hơn nữa, giá nguyên vật liệu xuất kho sẽ không sát với giá thị trường. Phương pháp đơn giá bình quân: Theo phương pháp này, giá nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính theo công thức:

Giá thực tế NVL xuất dùng = Số lượng NVL xuất dùng  x Giá đơn vị bình quân

Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong ba cách sau:

+ Cách 1: Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ = (Giá thực tế NVL tồn kho đầu kỳ +  Giá thực tế NVL nhập trong kỳ )/ ( Số lượng thực tế NVL tồn kho đầu kỳ + Số lượng thực tế NVL nhập trong kỳ)

Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ đơn giản, dễ làm. Nhưng độ chính xác không cao, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung. Phương pháp này chỉ thích hợp với những đơn vị mà công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu không nhiều.

+ Cách 2: Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước = Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ này (cuối kỳ trước)/ Số lượng thực tế NVL tồn đầu kỳ này (cuối kỳ trước)

Phương pháp này khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động nguyên vật liệu trong kỳ. Tuy nhiên, độ chính xác không cao vì không tính đến sự biến động của giá nguyên vật liệu trong kỳ.

+ Cách 3: Giá đơn vị Bình quân sau mỗi lần nhập = Giá thực tế NVL tồn kho sau mỗi lần nhập/ Số lượng thực tế NVL tồn kho sau mỗi lần nhập.

Cách tính theo giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên, chính xác và cập nhật. Nhưng tốn nhiều công sức, phải tính toán nhiều lần, vì vậy chỉ nên sử dụng ở những doanh nghiệp thực hiện kế toán bằng máy vi tính.

Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này, khi tính giá nguyên vật liệu xuất kho người ta dựa trên nguyên tắc: nguyên vật liệu nào nhập trước thì xuất trước và lấy đơn giá mua của lần nhập đó để tính giá nguyên vật liệu xuất kho.

Giá thực tế NVL xuất kho = Số lượng NVL xuất kho x  Đơn giá thực tế của lô NVL nhập trước

Thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm; giá nguyên vật liệu tồn kho sát với mức giá hiện hành. Phương pháp này thường áp dụng ở những doanh nghiệp có ít danh điểm nguyên vật liệu, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều. Tuy nhiên, không thích hợp trong trường hợp lạm phát và phải tính riêng cho từng danh điểm nguyên vật liệu.

Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): Phương pháp này dựa trên giả thiết nguyên vật liệu nào nhập kho sau thì xuất trước để tính giá nguyên vật liệu xuất kho, khi xuất đến lô nguyên vật liệu nào thì lấy đơn giá mua của lô nguyên vật liệu đó để tính.

Phương pháp này luôn cập nhập một cách khá chính xác về giá trị nhập và xuất kho nguyên vật liệu, rất thích hợp trong trường hợp lạm phát, khi mức giá có xu hướng tăng nhưng phải tính theo từng danh điểm nguyên vật liệu.

Với các phương pháp trên, để tính được giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho đòi hỏi phải xác định được lượng nguyên vật liệu xuất kho căn cứ vào các chứng từ xuất. Tuy nhiên trong thực tế có những doanh nghiệp có nhiều chủng loại nguyên vật liệu với qui cách, mẫu mã khác nhau, giá trị thấp và được xuất dùng thường xuyên, các doanh nghiệp này không có điều kiện để kiểm kê từng nghiệp vụ xuất kho do vậy việc tính giá được tiến hành cho số lượng nguyên vật liệu tồn kho thực tế cuối kỳ sau đó mới xác định được mức giá thực tế của nguyên vật liệu xuất trong kỳ.

Giá thực tế

NVL Tồn kho cuối kỳ = Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ x    Đơn giá nhập NVL lần cuối

Giá thực tế NVL xuất dùng = Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ + Giá thực tế NVL nhập trong kỳ  - Giá thực tế NVL tồn cuối kỳ

Phương pháp hệ số giá. Để tính giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho và nguyên vật liệu tồn kho, người ta có thể sử dụng phương pháp hệ số giá để tính. Theo phương pháp này hàng ngày kế toán ghi sổ theo giá hạch toán, cuối kỳ mới tiến hành tính toán điều chỉnh chênh lệch giữa giá hạch toán và giá thực tế để xác định giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho. Giá hạch toán có thể lấy theo giá kế hoạch hoặc giá cuối kỳ trước và được qui định thống nhất trong một kỳ hạch toán. Giá hạch toán không có ý nghĩa trong việc thanh toán và kế toán tổng hợp về nguyên vật liệu. Trước hết tính hệ số giá theo công thức:

Theo phương pháp này, số lượng tính toán ít, có thể theo dõi được sự luân chuyển hàng ngày của nguyên vật liệu theo thước đo giá trị, kết hợp chặt chẽ giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết nguyên vật liệu. Tuy nhiên, nó lại che dấu sự biến động của giá, đòi hỏi trình độ kế toán cao. Kết luận: Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho đều có nội dung, ưu, nhược điểm và các điều kiện áp dụng phù hợp nhất định. Do đó, doanh nghiệp phải căn cứ vào hoạt động kinh doanh, yêu cầu quản lý và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán để lựa chọn một phương pháp tính phù hợp. Phương pháp tính giá đã đăng ký phải được sử dụng nhất quán trong niên độ kế toán.

3. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu.

Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp thường có nhiều chủng loại khác biệt nhau, nếu thiếu một loại nào đó có thể gây ra ngừng sản xuất, chính vì vậy việc đảm bảo theo dõi được tình hình biến động của từng loại nguyên vật liệu luôn luôn là một đòi hỏi cấp thiết đối với kế toán nguyên vật liệu.

Trong thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu hiện nay ở nước ta nói chung và ở các doanh nghiệp sản xuất nói riêng đang áp dụng ba phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu là: Phương pháp thẻ song song. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển. Phương pháp sổ số dư.

3.1. Phương pháp thẻ song song.

Theo phương pháp thẻ song song, kế toán nghiệp vụ nhập, xuất và tồn kho nguyên vật liệu diễn ra như sau: Ở kho: Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ nhập xuất kho, thủ kho ghi số lượng thực nhập, thực xuất vào các thẻ kho liên quan và sau mỗi nghiệp vụ nhập, xuất hoặc cuối mỗi ngày tính ra số tồn kho trên thẻ kho. Hàng ngày hoặc định kỳ 3 - 5 ngày một lần, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải chuyển toàn bộ chứng từ nhập xuất kho về phòng kế toán.

Ở phòng kế toán: Kế toán nguyên vật liệu mở thẻ kế toán chi tiết cho từng danh điểm nguyên vật liệu ứng với thẻ kho mở ở kho. Hàng ngày hoặc định kỳ, nhận được các chứng từ nhập xuất kho do thủ kho chuyển đến, kế toán nguyên vật liệu phải kiểm tra chứng từ, đối chiếu các chứng từ nhập, xuất kho với các chứng từ liên quan, ghi đơn giá vào phiếu và tính thành tiền trên từng chứng từ nhập, xuất kho vào các thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu liên quan giống như trình tự ghi vào thẻ kho của thủ kho. Cuối tháng, kế toán cộng thẻ tính ra số nhập, số xuất và số tồn kho của từng danh điểm nguyên vật liệu. Số lượng nguyên vật liệu tồn kho phản ánh trên thẻ kho tương ứng. Mọi sai sót phát hiện khi đối chiếu phải được kiểm tra xác minh và chỉnh lý kịp thời theo đúng sự thực.

Để thực hiện kiểm tra, đối chiếu giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp, sau khi đối chiếu với thẻ kho của thủ kho, kế toán phải căn cứ vào thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu lập bảng tổng hợp nhập, xuất và tồn kho nguyên vật liệu. Số liệu của bảng này được đối chiếu với số liệu của kế toán tổng hợp. Ngoài ra để quản lý chặt chẽ thẻ kho, kế toán nguyên vật liệu còn mở sổ đăng ký thẻ kho, khi giao thẻ kho cho thủ kho, kế toán phải ghi vào sổ. Phương pháp thẻ song song là một phương pháp đơn giản, dễ làm.

Nhưng trong điều kiện sản xuất lớn, áp dụng phương pháp này mất nhiều công sức do ghi chép trùng lặp. Hơn nữa việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối tháng do vậy hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán. Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít loại nguyên vật liệu, kho tàng tập trung, khối lượng các nghiệp vụ nhập, xuất ít, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ kế toán còn hạn chế. 

3.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.

Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển được hình thành trên cơ sở cải tiến một bước phương pháp thẻ song song. Theo phương pháp này, quá trình kế toán chi tiết nguyên vật liệu diễn ra như sau: Ở kho: vẫn phải mở thẻ kho để theo dõi về mặt số lượng đối với từng danh điểm nguyên vật liệu như phương pháp thẻ song song.

Ở phòng kế toán: không mở thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liệu mà thay vào đó chỉ mở một quyển “Sổ đối chiếu luân chuyển” để hạch toán số lượng và giá trị của từng danh điểm nguyên vật liệu trong từng kho. Sổ đối chiếu luân chuyển không ghi theo chứng từ nhập, xuất kho mà chỉ ghi một lần vào cuối thấng trên cơ sở tổng hợp nhập, xuất kho phát sinh trong tháng của từng danh điểm nguyên vật liệu. Mỗi danh điểm nguyên vật liệu chỉ được ghi một dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển. Cuối tháng đối chiếu số lượng nguyên vật liệu trên “Sổ đối chiếu luân chuyển” với thẻ kho của thủ kho và lấy số tiền của từng loại nguyên vật liệu trên sổ này để đối chiếu với kế toán tổng hợp.

Phương pháp này dễ làm, do chỉ ghi một lần vào cuối tháng nên công việc ghi chép kế toán chi tiết theo từng danh điểm nguyên vật liệu được giảm nhẹ. Tuy nhiên, toàn bộ công việc ghi chép, tính toán, kiểm tra đều phải dồn hết vào ngày cuối tháng, cho nên công việc kế toán và lập báo cáo hàng tháng thường bị chậm trễ. Ngoài ra việc ghi chép giữa thủ kho và kế toán nguyên vật liệu còn bị trùng lặp về chỉ tiêu số lượng. Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp không có nhiều nghiệp vụ nhập xuất, số lượng kho tàng ít, kế toán nguyên vật liệu kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.

3.3. Phương pháp sổ số dư.

Phương pháp sổ số dư là một bước cải tiến căn bản trong việc tổ chức kế toán chi tiết nguyên vật liệu. Theo phương pháp này công việc kế toán được tiến hành cụ thể như sau: Ở kho: Thủ kho vẫn dùng thẻ kho để ghi chép tình hình biến động nguyên vật liệu theo chỉ tiêu số lượng như các phương pháp trên. Hàng ngày hoặc định kỳ, sau khi thẻ kho xong, thủ kho phải tập hợp toàn bộ các chứng từ nhập, xuất kho phát sinh trong ngày (hoặc trong kỳ) theo từng nhóm nguyên vật liệu qui định. Căn cứ vào kết quả phân loại chứng từ lập phiếu giao nhận chứng từ kê rõ số lượng, số hiệu các chứng từ của từng loại nguyên vật liệu.

Phiếu này sau khi lập xong được đính kèm với các tập phiếu nhập kho hoặc phiếu xuất kho để giao cho kế toán nguyên vật liệu. Cuối tháng thủ kho phải căn cứ vào các thẻ kho đã được kế toán kiểm tra, ghi số lượng nguyên vật liệu tồn kho cuối tháng của từng danh điểm nguyên vật liệu vào sổ số dư. Ghi sổ số dư xong thủ kho chuyển giao sổ số dư cho phòng kế toán để kiểm tra và tính ra thành tiền. Ở phòng kế toán: Nhận được các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu và phiếu giao nhận chứng từ kế toán tiến hành kiểm tra đối chiếu với các chứng từ kế toán tiến hành kiểm tra đối chiếu với các chứng từ có liên quan. Sau đó kế toán tính giá các chứng từ theo giá hoạch toán tổng cộng số tiền của các chứng từ nhập, xuất kho theo từng nhóm nguyên vật liệu và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ.

Căn cứ vào phiếu giao nhận chứng từ đã được tính giá kế toán ghi vào bảng lũy kế nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu. Số tồn kho cuối tháng của từng nhóm nguyên vật liệu trên bảng kê lũy kế được sử dụng để đối chiếu với số dư bằng tiền trên sổ số dư và với số liệu của kế toán tổng hợp. Phương pháp này kết hợp chặt chẽ nghiệp vụ của thủ kho với việc ghi chép của phòng kế toán, xoá bỏ việc ghi chép trùng lặp, tạo điều kiêpn kiểm tra thường xuyên và có hệ thống của kế toán đối với thủ kho, đảm bảo số liệu kế toán chính xác, kịp thời. Tuy nhiên, do kế toán chỉ theo dõi về mặt giá trị nên qua số liệu kế toán không thể biết được tình hình biến động của từng thứ nguyên vật liệu mà muốn biết phải thông qua thẻ kho.

Ngoài ra việc kiểm tra, đối chiếu, phát hiện sai sót giữa kho và phòng kế toán còn gặp nhiều khó khăn. Phương pháp này thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng các nghiệp vụ nhập xuất nguyên vật liệu lớn, nhiều chủng loại nguyên vật liệu, đã xây dựng được hệ thống danh điểm nguyên vật liệu, dùng giá hạch toán hang ngày và trình độ cán bộ kế toán của doanh nghiệp tương đối cao. 

4. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo chế độ hiện hành.

Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu là việc ghi chép sự biến động về mặt giá trị của nguyên vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Trong hệ thống kế toán hiện hành nguyên vật liệu thuộc nhóm hàng tồn kho nên kế toán tổng hợp nguyên vật liệu có thể được tiến hành theo một trong hai phương pháp sau: phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kê khai định kỳ. Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, và yêu cầu cảu công tác quản lý và vào trình độ cán bộ kế toán cũng như vào quy định của chế độ kế toán hiện hành.

4.1. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên.

Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên, liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho. Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở nước ta vì những tiện ích của nó như: độ chính xác cao, cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhật.

Theo phương pháp này, tại bất kỳ thời điểm nào. kế toán cũng có thể định được lượng nhập, xuất, tồn kho từng loại nguyên vật liệu. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại nguyên vật liệu, giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng, xuất bán mà áp dụng phương pháp này sẽ tốn rất nhiều công sức.

4.1.1. Tài khoản sử dụng.

Để tiến hành Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp KKTX có áp dụng luật thuế GTGT, kế toán sử dụng các tài khoản sau: TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu”.

Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động của các loại nguyên liệu, vật liệu theo giá thực tế, có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… tuỳ theo yêu cầu quản lý và phương tiện tính toán.

Bên nợ: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế nguyên vật liệu trong kỳ (mua ngoài, tự sản xuất, nhận góp vốn, phát hiện thừa, đánh giá tăng…). Bên có: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm giảm nguyên vật liệu trong kỳ theo giá thực tế (xuất dùng, xuất bán, xuất góp vốn, thiếu hụt…)

Dư nợ: Giá thực tế của NVL tồn kho. TK 151 “hàng mua đang đi đường” Tài khoản này dùng để theo dõi các loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng cuối tháng chưa về nhập kho (kể cả số đang gửi kho người bán).

Kết cấu của TK 151 như sau:

Bên nợ: Phản ánh giá trị nguyên vật liệu đang đi trên đường.

Bên có: Phản ánh gía trị nguyên vật liệu đang đi trên đường trước khi nhập kho hay chuyển giao cho bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng.

Dư nợ: Giá trị nguyên vật liệu đang đi trên đường (đầu và cuối kỳ). Các chứng từ được sử dụng trong kế toán nguyên vật liệu ở doanh nghiệp thường bao gồm: Hoá đơn bán hàng (nếu tính thuế theo phương pháp trực tiếp), Hoá đơn giá trị gia tăng (nếu tính theo phương pháp khấu trừ). Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, phiếu nhập kho, phiếu xuất vật tư theo hạn mức… tuỳ theo nội dung nghiệp vụ cụ thể.

4.1.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

4.1.2.1. Kế toán tổng hợp các trường hợp tăng nguyên vật liệu.

Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất tăng do nhiều nguồn khác nhau như: mua ngoài, tự chế biến hoặc thuê ngoài gia công, nhận góp vốn của các đơn vị khác… trong trường hợp, kế toán tổng hợp nguyên vật liệu phải tính toán, phản ánh chính xác, đầy đủ giá trị thực tế của nguyên vật liệu nhập kho trong doanh nghiệp. Tăng nguyên vật liệu do mua ngoài.

Trường hợp 1: NVL và hoá đơn cùng về: Căn cứ vào hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm nhập và phiếu nhập kho, kế toán ghi:

Nợ TK 152 (chi tiết theo từng loại NVL): Giá thực tế nguyên vật liệu.

Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ.

Có TK liên quan (331,111,112,141…): Tổng giá thanh toán.

+ Trường hợp doanh nghiệp được hưởng chiết khấu thương mại hay giảm giá NVL mua (do nguyên vật liệu kém phẩm chất, sai quy cách, do giao nhận…) hoặc nguyên vật liệu mua hay trả lại chủ hàng, ghi:

Nợ TK 331: Trừ vào số tiền phải trả.

Nợ TK 111,112: Số tiền người bán trả lại.

Nợ TK 138 (1388): Số tiền được người bán chấp nhận.

Có TK 152 (chi tiết từng loại nguyên vật liệu): Số giảm giá nguyên vật liệu mua, chiết khấu thương mại hay nguyên vật liệu trả lại theo giá không thuế.

Có TK 133(1331): Thuế GTGT đầu vào tương ứng với số giảm giá, chiết khấu thương mại được hưởng hay nguyên vật liệu mua trả lại.

+ Trường hợp doanh nghiệp được hưởng chiết khấu thanh toán khi mua nguyên vật liệu do thanh toán tiền hàng trước hạn.

Nợ TK 331: Trừ vào số tiền phải trả.

Nợ TK 111,112: Số tiền được người bán trả lại.

Nợ TK 138 (1388): Số tiền được người bán chấp nhận.

Có TK 515: Số chiết khấu thanh toán được hưởng.

Trường hợp 2: nguyên vật liệu về chưa có hoá đơn: Khi nguyên vật liệu về mà chưa có hoá đơn, kế toán chưa ghi sổ ngay mà lưu phiếu nhập kho vào tập hồ sơ “nguyên vật liệu chưa có hoá đơn”.

Nếu trong tháng có hoá đơn về thì ghi sổ bình thường, còn nếu cuối tháng, hoá đơn vẫn chưa về thì ghi sổ theo giá tạm tính bằng bút toán:

Nợ TK 152 (chi tiết nguyên vật liệu).

Có TK 331 Sang tháng sau, khi hoá đơn về, sẽ tiến hành điều chỉnh giá thực tế bằng một trong ba cách sau:

Cách 1: Xoá giá tạm tính bằng bút toán đỏ, rồi ghi giá thực tế bằng bút toán thường.

Cách 2: Ghi số chênh lệch giữa giá tạm tính với giá thực tế bằng bút toán đỏ (nếu giá tạm tính > giá thực tế) hoặc bằng bút toán thường (nếu giá thực tế > giá tạm tính).

Cách 3: Dùng bút toán đảo ngược để xoá bút toán theo giá tạm tính đã ghi, ghi lại giá thực tế bằng bút toán đúng như bình thường.

Trường hợp 3: Hoá đơn về nhưng nguyên vật liệu chưa về: Kế toán lưu hoá đơn mua hàng vào hồ sơ “nguyên vật liệu mua đang đi đường”.

Nếu trong tháng nguyên vật liệu về thì ghi sổ bình thường, còn nếu cuối tháng vẫn chưa về thì ghi:

Nợ TK 151: Giá mua theo hoá đơn (không có thuế GTGT). Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ. Có TK liên quan (331, 111,112,141…): Tổng giá thanh toán.

Sang tháng sau, khi nguyên vật liệu về, ghi: Nợ TK 152: Nếu nhập kho (chi tiết nguyên vật liệu). Nợ Tk 621, 627, 641, 642: Xuất sử dụng cho sản xuất kinh doanh.

Có TK 151: nguyên vật liệu đi đường kỳ trước đã về. Trường hợp 4: nguyên vật liệu thừa so với hoá đơn: Về nguyên tắc, khi phát hiện thừa, phải làm văn bản báo cáo các bên liên quan biết để cùng xử lý.

Về mặt kế toán ghi như sau:

+ Nếu nhập kho toàn bộ số nguyên vật liệu (kể cả số thừa): Khi nhập kho, kế toán phản ánh toàn bộ số thực nhập: Nợ TK 152 (chi tiết nguyên vật liệu): Trị giá toàn bộ số nguyên vật liệu (giá chưa có thuế GTGT).

Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT tính theo số hoá đơn.

Có TK 331 : Trị giá thanh toán theo hoá đơn.

Có TK 338 (3381): Trị giá nguyên vật liệu thừa (chưa có thuế GTGT).

Căn cứ vào quyết định xử lý, kế toán ghi sổ như sau:

- Nếu trả cho người bán:

Nợ TK 338(3381): Trị giá nguyên vật liệu thừa đã xử lý.

Có TK 152 (chi tiết nguyên vật liệu): Trả lại số thừa. -

Nếu đồng ý mua tiếp số thừa. Nợ TK 338 (3381): Trị giá nguyên vật liệu thừa (giá chưa có thuế GTGT).

Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT của số nguyên vật liệu thừa.

Có TK 331: Tổng giá thanh toán số nguyên vật liệu thừa.

- Nếu thừa không dõ nguyên nhân, ghi tăng thu nhập khác:

Nợ TK 338 (3381): Trị giá hàng thừa.

Có TK 711: Số thừa không dõ nguyên nhân.

Ngoài cách ghi như trên, trị giá nguyên vật liệu thừa ghi ở tài khoản 3381 có thể ghi nhận theo tổng giá thanh toán (cả thuế GTGT đầu vào). Khi xử lý, kế toán sẽ căn cứ vào quyết định để ghi sổ cho phù hợp.

+ Nếu nhập kho theo số hoá đơn: Khi nhập kho, ghi nhận số nhập như trường hợp bình thường. Số thừa coi như giữ hộ người bán và ghi: Nợ TK 002.

Khi xử lý số thừa ghi:

Có TK 002 Đồng thời, căn cứ vào cách xử lý cụ thể kế toán ghi sổ như sau:

- Nếu đồng ý mua tiếp số thừa:

Nợ TK 152: Trị giá nguyên vật liệu thừa (giá chưa có thuế GTGT).

Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT của số nguyên vật liệu thừa.

Có TK 331: Tổng giá thanh toán số nguyên vật liệu thừa.

- Nếu thừa không do nguyên nhân, ghi tăng thu nhập khác:

Nợ TK 152: Trị giá nguyên vật liệu thừa (giá chưa có thuế GTGT)

Có TK 711: Số thừa không dõ nguyên nhân.

Trường hợp 5: Nguyên vật liệu thiếu so với hoá đơn: Kế toán chỉ ghi tăng nguyên vật liệu theo trị giá nguyên vật liệu thực nhận, số thiếu căn cứ vào biên bản kiểm nhận, thông báo cho bên bán biết và ghi sổ như sau:

+ Khi nhập kho, kế toán ghi:

Nợ TK 152 (chi tiết NVL): Giá mua chưa có thuế của số thực nhập kho. Nợ TK 138 (1388): Trị giá số thuế (không có thuế GTGT).

Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT theo hoá đơn. Có TK 331:

Trị giá thanh toán theo hoá đơn.

+ Khi xử lý:

- Nếu người bán giao tiếp số nguyên vật liệu còn thiếu:

Nợ TK 152 (chi tiết NVL): Người bán giao tiếp số thiếu.

Có TK 138 (1381): Xử lý số thiếu.

- Nếu người bán không còn nguyên vật liệu:

Nợ TK 331: Ghi giảm số tiền phải trả người bán.

Có TK 138 (1381): Xử lý số thiếu.

Có TK 133 (1331): Thuế GTGT của số NVL thiếu.

- Nếu cá nhân làm mất phải bồi thường:

Nợ TK 138 (1381), 334: Cá nhân phải bồi thường.

Có TK 133 (1331) : Thuế GTGT của số NVL thiếu.

Có TK 138 (1381):Xử lý số thiếu.

- Nếu thiếu không xác định được nguyên nhân:

Nợ TK 632: Số thiếu không rõ nguyên nhân.

Có TK138 (1381): Xử lý số thiếu.

Ngoài cách ghi trên, trị giá nguyên vật liệu thiếu ghi nhận ở TK 1381 còn có thể ghi nhận theo tổng giá thanh toán, do vậy số thuế GTGT đầu vào ghi nhận ở TK 1331 chỉ là số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tương ứng với số nguyên vật liệu thực nhập.

Trường hợp 6: Nguyên vật liệu kém phẩm chất, sai qui cách, không đảm bảo như hợp đồng:

Số nguyên vật liệu này có thể được giảm giá hoặc trả lại cho người bán. Khi xuất kho giao trả cho chủ hàng hoặc được giảm giá, ghi:

Nợ TK 331, 111, 112: Tổng giá thanh toán.

Có TK 152 (chi tiết NVL): Giá mua chưa có thuế GTGT. Có TK 133 (1331):

Thuế GTGT giảm trừ tương ứng. Trường hợp nguyên vật liệu tự chế hoặc thuê ngoài gia công chế biến hoàn thành nhập kho: Các trường hợp tăng nguyên vật liệu khác: Ngoài nguồn nguyên vật liệu mua ngoài hoặc tự chế nhập kho, nguyên vật liệu của doanh nghiệp còn tăng do nhiều nguyên nhân khác như nhận liên doanh, nhận cấp phát, góp vốn…

Mọi trường hợp phát sinh làm tăng giá nguyên vật liệu đều được ghi Nợ TK 152 theo giá thực tế, đối ứng với các TK phù hợp.

Ví dụ: Nợ TK 152 (chi tiết NVL): Giá thực tế nguyên vật liệu tăng thêm.

Có TK 411: Nhận cấp phát, nhận góp vốn.

Có TK 711: Nhận viện trợ, biếu tặng.

Có TK 412: Đánh giá tăng nguyên vật liệu.

Có TK 336: Vay lẫn nhau trong các đơn vị nội bộ.

Có TK 621, 627, 641, 642, 154, 711…

Dùng không hết hoặc phế liệu thu hồi nhập kho.

Tăng nguyên vật liệu do phát hiện thừa khi kiểm kê: Nợ TK 152 (chi tiết NVL): Giá thực tế nguyên vật liệu tăng thêm.

Có TK 338 (3381): Nguyên vật liệu thừa ngoài định mức, chờ xử lý.

Có TK 632: Thừa trong định mức tại kho.

Khi xử lý sẽ tuỳ thuộc vào nguyên nhân ghi:

Nợ TK 338 (3381)

Có TK liên quan

4.1.2.2. Kế toán tổng hợp các trường hợp giảm nguyên vật liệu.

Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp giảm chủ yếu do xuất sử dụng cho SXKD, phần còn lại có thể xuất bán, xuất góp vốn liên doanh… Trong mọi trường hợp, kế toán nguyên vật liệu phải phản ánh chính xác giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng theo phương pháp tính đã đăng ký và phân bổ đúng đối tượng sử dụng. Xuất kho nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu SXKD:

Căn cứ vào mục đích xuất dùng, kế toán ghi:

Nợ TK 621 (chi tiết đối tượng): Xuất trực tiếp chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.

Nợ TK 627 (6272 – chi tiết phân xưởng): Xuất dùng chung cho phân xưởng, bộ phận sản xuất.

Nợ TK 641 (6412): Xuất phục vụ cho bán hàng.

Nợ TK 642 (6422): Xuất cho nhu cầu quản lý doanh nghiệp.

Nợ TK 241: Xuất cho XDCB hoặc sửa chữa TSCĐ.

Có TK 152 (chi tiết NVL): Giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng. Xuất kho nguyên vật liệu tự chế hoặc thuê ngoài gia công chế:

Nợ TK 154: Giá thực tế nguyên vật liệu xuất chế biến.

Có TK 152 (chi tiết NVL): Giá thực tế. X

uất kho nguyên vật liệu góp vốn liên doanh: Căn cứ vào giá gốc (giá thực tế) của nguyên vật liệu xuất góp vốn và giá trị vốn góp được liên doanh chấp nhận, phần chênh lệch giữa giá thực tế và giá trị vốn góp sẽ được phản ánh vào TK 412 “Chênh lệch đánh giá lại tài sản” (nếu giá vốn > giá trị vốn góp thì ghi Nợ, giá vốn < giá trị vốn góp thì ghi Có TK 412 phần chênh lệch).

Nợ TK 222: Giá trị vốn góp liên doanh dài hạn.

Nợ TK 128: Giá trị vốn góp liên doanh ngắn hạn.

Nợ (hoặc Có) TK 412: Phần chênh lệch.

Có TK 152 (chi tiết NVL): Giá thực tế nguyên vật liệu xuất góp vốn liên doanh.

Xuất nguyên vật liệu cho vay tạm thời:

Nợ TK 138 (1388): Cho các cá nhân, tập thể vay tạm thời.

Nợ TK 136 (1368): Cho vay nội bộ tạm thời.

Có TK 152 (chi tiết NVL): Giá thực tế nguyên vật liệu cho vay.

Xuất kho nguyên vật liệu cho các nguyên nhân khác (nhượng bán, trả lương, trả thưởng, biếu tặng… ):

Căn cứ vào mục đích sử dụng, kế toán phản ánh giá vốn (giá thực tế) của nguyên vật liệu xuất dùng cho các mục đích:

Nợ TK 632: Nhượng bán, xuất trả lương, trả thưởng, biếu tặng…

Nợ TK 412: Phần chênh lệch giảm giá do đánh giá lại.

Có TK 152: Giá thực tế nguyên vật liệu. Phát hiện thiếu nguyên vật liệu khi kiểm kê.

+ Nếu chưa rõ nguyên nhân ghi:

- Nếu thiếu trong định mức được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp, ghi:

Nợ TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp.

Có TK 138 (1381)

- Nếu thiếu ngoài định mức, người chịu trách nhiệm vật chất phải bồi thường ghi:

+ Trường hợp xác định ngay nguyên nhân thiếu thì không phải ghi qua TK 138 (1381) mà tuỳ thuộc từng nguyên nhân để ghi như phần xử lý ở trên.

Trên đây là những tài liệu và kiến thức mà Luận văn 1080 tổng hợp đươc về Lý luận chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp. Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?... 

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

PPhương Hằng

Em đang làm đề tài " Kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất". Ah/chị có tài liệu nào tương tự k cho e xin mẫu tham khảo với ạ.

Trả lời1 month ago

Thông tin bình luận

NNgọc Duyên

Có tài liệu luận văn về Luận văn kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất không ạ Gửi em xin ít tài liệu và mẫu luận văn về đề tài này với ạ

Trả lời2 months ago

Thông tin bình luận

VVũ ngọc diệp

cho e hỏi tri giá xuất kho lớn hơn giá bán thì định khoản như thế nào với a

Trả lời4 months ago

Thông tin bình luận

Zalo: 096.999.1080