Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc điểm và vai trò của nó đối với nền kinh tế

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Kinh tế
Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc điểm và vai trò của nó đối với nền kinh tế
5/5 (1 đánh giá) 0 bình luận

1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp

Để hiểu rõ thuế thu nhập trước hết cần tìm hiểu về thu nhập: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nào đó nhận được trong nền kinh tế xã hội thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ lao động, tài sản hay đầu tư…

Thuế thu nhập là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các cá nhân hoặc các pháp nhân nhưng không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ. Thuế thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu Ngân sách cho Nhà nước và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Vậy khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp là gì? Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu, thu vào phần thu nhập chịu thuế sau khi trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của các cơ sở SXKD, dịch vụ.

 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp

 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế không thể thiếu và là công cụ để nhà nƣớc quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế -xã hội. Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế.

Thuế thu nhập cá nhân đã đƣợc áp dụng từ rất lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và góp phần điều tiết nền kinh tế.

Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thuế thu nhập cá nhân do 2 nguyên nhân cơ bản: 

Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập. Điều này là thật sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường bởi sự tồn tại phổ biến của sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, việc áp dụng thuế gián thu mới chỉ đảm bảo sự công bằng theo chiều ngang. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của ngƣời nộp thuế và điều tiết thu nhập của ngƣời nộp thuế theo khả năng của họ. Vì thế, thuế thu nhập cá nhân còn đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc. Hơn thế nữa, một trong những lý thuyết của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp làm tăng phúc lợi xã hội bằng cách điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao và phân phối lại cho những người có thu nhập thấp hơn. 

Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân ra đời còn bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của nhà nƣớc cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng của mỗi quốc gia. Trƣớc xu thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, sự giảm dần hàng rào thuế quan do yêu cầu của tự do hóa thƣơng mại là một tất yếu, ảnh hƣởng và làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu tích lũy từ trong nước tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Vì vậy, nguồn thu chủ yếu cho ngân sách quốc gia là từ thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Trong đó, thuế thu nhập cá nhân là nguồn tài chính lớn, góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp

Bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp, người ta nhận thấy thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc trưng riêng để phân biệt với các sắc thuế và các công cụ tài chính khác như sau:

2.1. Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính lũy tiến

Đặc điểm đầu tiên của thuế thu nhập cá nhân là mang tính lũy tiến: Thu nhiều phần trăm hơn vào thu nhập của ngƣời có thu nhập cao và ít phần trăm vào thu nhập của ngƣời có thu nhập thấp. 

Tính lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân dựa trên hai cơ sở:

- Cơ sở lý thuyết: độ hữu dụng biên của thu nhập giảm dần

- Cơ sở thực tiễn: Người thu nhập cao có nhiều khả năng trả thuế hơn người thu nhập thấp

Tính lũy tiến thể hiện ở số thuế phải tỉ lệ gia tăng so với thu nhập. Như vậy thu nhập cao thì nộp nhiều, thu nhập thấp thì nộp ít và thu nhập chưa vượt qua ngưỡng thì tạm thời chưa nộp. Đây chính là lý thuyết về sự hy sinh độ hữu dụng.

Ý tưởng chính của lý thuyết nằm ở chỗ xây dựng mức thu thuế dựa trên nền tảng mức hy sinh độ hữu dụng biên (MUY) sinh ra từ thu nhập của cá nhân. Sử dụng nguyên tắc này trong thực tiễn, chính phủ buộc người có thu nhập càng cao càng phải hy sinh mức hữu dụng từ thu nhập theo một tỷ lệ nhiều hơn.

Có ba loại hy sinh hữu dụng:

Loại thứ nhất là hy sinh mức hữu dụng tuyệt đối bằng nhau, mức giảm tuyệt đối về độ hữu dụng của mọi cá nhân là như nhau nghĩa là chính phủ đánh thuế sao cho mỗi cá nhân mất đi một hữu dụng tuyệt đối bằng nhau.

Loại thứ hai là hy sinh tỷ lệ hữu dụng bằng nhau, mức giảm tương đối về độ hữu dụng của mọi cá nhân là như nhau nghĩa là chính phủ đánh thuế sao cho mỗi cá nhân mất đi một tỷ lệ hữu dụng bằng nhau.

Loại thứ ba là hy sinh hữu dụng biên bằng nhau, nộp thuế sao cho cân bằng MUY sau thuế.

2.2. Thuế thu nhập cá nhân đánh theo nơi cư trú và nguồn thu nhập

Theo thông lệ quốc tế , thuế thu nhập cá nhân thuộc loại thuế trực thu nên người chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế thu nhập cá nhân, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.

Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó.

Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó.

Rõ ràng, sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào. Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định nghĩa sao cho phù hợp với tình hình của mình.

Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú. Có rất ít nước áp dụng duy nhất tiêu thức này khi xác định đối tượng nộp thuế. Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài.

Điển hình, Hàn Quốc quy định đối tượng nộp thuế là toàn bộ các cá nhân là người cư trú hoặc không ở Hàn Quốc. Trong đó, người không cư trú ở Hàn Quốc là người có thời hạn ở Hàn Quốc dưới 1 năm và chỉ phải nộp thuế thu nhập với thu nhập phát sinh ở Hàn Quốc.

Hồng Kông, mọi cá nhân không phân biệt “ cư trú” hay “không cư trú” chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Hông Kông đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước này.

2.3. Thuế thu nhập cá nhân mang tính thứ bậc

Về lý thuyết, tồn tại 3 mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân.

Thứ nhất, đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập. Đây là phương pháp áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh. Tương ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt. Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từng nguồn. Các nhà kinh tế học cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế vì nó thu "theo sát từng nguồn thu nhập". Tuy nhiên, trên thực tế, đánh thuế thu nhập theo phương pháp này gặp rất nhiều hạn chế.

Một là, việc chia thu nhập cá nhân thành từng phần thu nhập để chịu các mức thuế suất khác nhau là một công việc phức tạp, không đảm bảo nguyên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang. Hai là, việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thu nhập, gây khó khăn cho công tác quản lý và là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế. Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không rõ ràng thì sẽ mất ý nghĩa công bằng của thuế thu nhập cá nhân. Trong một chừng mực nào đó, cách đánh thuế này cũng không hiệu quả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệu quả để chịu mức thuế thấp nhất.

Thứ hai, đánh thuế trên tổng thu nhập. Phương pháp này tiến hành đánh thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất các các khoản thu nhập nhận được mà không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập. Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét một cách tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập. Do ưu điểm đơn giản và dễ dàng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến khi đánh thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước phát triển.

Thứ ba, đánh thuế hỗn hợp, thuế thu nhập cá nhân có thể đánh theo cách kết hợp cả hai phương pháp kể trên. Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn phát sinh thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lại tất cả lên tổng thu nhập một mức thuế nữa. Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất lũy tiến ngoài thuế suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập. Cách đánh thuế này đảm bảo sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán nên chỉ có ý nghĩa trên phương diện lý thuyết.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân là giảm số lượng thuế suất. Xu hướng này làm cho chính sách thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia đơn giản hơn, mặc dù khoảng cách giữa các bậc thuế xa hơn. Mỹ là quốc gia giảm số bậc thuế mạnh mẽ nhất, từ 25 xuống còn 5 bậc, Hàn Quốc giảm từ 9 xuống còn 5 bậc, Pháp giảm từ 17 xuống còn 7 bậc…

2.4. Thuế thu nhập cá nhân là công cụ trực tiếp làm giảm sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Một trong những nhược điểm của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của các cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập của cá nhân sau khi đã trừ đi khoản thu nhập để bù đắp chi phí cần thiết để đủ nuôi sống bản thân và gia đình. Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến đảm bảo yếu tố công bằng, khi thu nhập càng cao thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Thông qua thuế thu nhập cá nhân, nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội.

Hơn thế nữa, thông qua khoản thu từ thuế thu nhập cá nhân cho ngân sách nhà nước, các chính phủ còn thể hiện được chức năng đảm bảo công bằng trong xã hội bằng việc thực hiện chi ngân sách cho các công trình công cộng, bảo đảm an sinh xã hội, trợ cấp cho người có thu nhập thấp. Hay nói cách khác, các chính phủ dùng nguồn thu từ thuế thu nhập của các cá nhân có thu nhập cao trong xã hội để thực hiện công bằng xã hội.

 

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ làm thuê báo cáo tốt nghiệp tại Hà Nội, Tp HCM và các tỉnh thành khác với dịch vụ chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài báo cáo thực tập, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp

 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp

Sau khi tìm hiểu về “Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp” và “Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp”, tiếp theo ta cần tìm hiểu xem loại thuế này có vai trò gì đối với nền kinh tế?

3. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường:

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 được đưa vào thực hiện từ 01/01/2004 sửa đổi Luật thuế TNDN năm 1997 thay thế cho thuế lợi tức trước đây đã mở rộng đối tượng chịu thuế, bao gồm toàn bộ thu nhập nhận được trong nền kinh tế thị trường và thống nhất áp dụng đối với mọi thành phần kinh tế và mọi loại hình doanh nghiệp, giữa đối tượng đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước, tạo nên một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn trong điều kiện nền kinh tế mới, tạo cho nền kinh tế đất nước nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Vai trò của thuế TNDN được thể hiện cụ thể:

- Thứ nhất, đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhằm đảm bảo trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, cho nên cũng giống như các loại thuế khác, vai trò đầu tiên của thuế TNDN là bảo đảm một nguồn thu ổn định và không nhỏ cho NSNN thông qua việc ngày càng mở rộng đối tượng chịu thuế, có khả năng bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều loại hình thu nhập phức tạp và tinh vi hơn trước.

- Thứ hai, thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế, điều tiết các hoạt động kinh doanh. Thông qua hệ thống ưu đãi về thuế suất, miễn giảm thuế, thuế TNDN góp phần định hướng cho các Nhà Đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn mà Nhà nước cần khuyến khích đầu tư, từ đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

- Thứ ba, thuế TNDN thể hiện vai trò đặc trưng của thuế là đảm bảo công bằng xã hội. Là sắc thuế trực thu, thuế TNDN có khả năng đảm bảo công bằng theo chiều dọc: đối tượng nộp thuế có thu nhập chịu thuế cao thì nộp thuế nhiều, đối tượng nộp thuế có thu nhập thấp thì nộp thuế ít. Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn thì được giảm thuế, được chuyển lỗ sang những năm sau...thuế TNDN có nhiều mức thuế suất ưu đãi khác nhau.

Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh, thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ....). Sự phân hóa giàu nghèo là điều không thể tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các thành viên trong xã hội.

- Thứ tư, thuế TNDN là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình độ hạch toán kế toán đối với các đối tượng nộp thuế. Theo Luật thuế TNDN, các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và tính số thuế phải nộp, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về các số liệu kê khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác hạch toán kế toán ở đơn vị. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra NNT qua đó có thể phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của NNT và tùy vào từng trường hợp sai phạm mà cán bộ thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời... Nhờ đó ý thức của NNT sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bước hoàn thiện hơn.

- Thứ năm, thuế TNDN là công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của NNT. Nhìn vào số thuế TNDN mà đơn vị phải nộp, so sánh đối với số thuế TNDN của các doanh nghiệp cùng ngành ở địa phương và trong cả nước có thể đánh giá khái quát về hiệu quả SXKD của đơn vị. Vì doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có lãi thì mới phát sinh số thuế phải nộp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng lớn thì số thuế TNDN phải nộp càng cao. Và nếu số thuế TNDN phải nộp tăng lên qua các năm thì chứng tỏ doanh nghiệp có mức tăng trưởng khá và ngược lại là hoạt động SXKD của doanh nghiệp đang giảm sút. Như vậy thuế TNDN là một công cụ đánh giá hiệu quả SXKD của đơn vị một cách khá chính xác.

- Thứ sáu, thuế TNDN còn có vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Thông qua chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước sẽ ưu tiên cho ngành cần phát triển để chuyển dịch, thu hút Nhà đầu tư từ ngành chưa cần phát triển sang ngành cần phát triển, phục vụ mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chúc bạn học tập tốt hơn với bài viết “Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc điểm và vai trò của nó đối với nền kinh tế” này.

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

Zalo: 096.999.1080