Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Quản lý nhà nước
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
5/5 (2 đánh giá) 1 bình luận

Quản Lý Nhà Nước về Bảo Hiểm Thất Nghiệp là quá trình tác động và điều hành của Nhà nước vào hoạt động BHTN sao cho hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời làm cho BHTN phát huy được tác dụng và phục vụ mục đích mà Nhà nước đã đề ra.

Tham khảo thêm các bài viết khác:

+ Khái quát chung về quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên nước

+ Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ

 

1. Quan niệm quản lý nhà nước về Bảo hiểm thất nghiệp

1.1. Quan điểm về thất nghiệp

Thất nghiệp là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu và ngày nay đã trở thành phổ biến trong nền KTTT. Thất nghiệp được đề cập đến trong các giáo trình kinh tế, trong thống kê kinh tế quốc dân, trong sinh hoạt hàng ngày.

Theo quan điểm của P.ĂngGhen, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất và lớn nhất của con người. P.Ăng Ghen đã khẳng định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người”. Thực tế cho thấy, ai sinh ra cũng phải sống, muốn sống phải có ăn, mặc, muốn có ăn, mặc phải lao động và được lao động, lao động là cách thức duy nhất để tạo ra thu nhập. Nhưng trong điều kiện KTTT không phải ai cũng được đáp ứng và được đáp ứng một cách đầy đủ. Muốn được lao động, NLĐ phải có việc làm để từ đó tạo ra của cải vật chất và dịch vụ, đồng thời tạo ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình mình. Nhưng để có được việc làm, nhất là việc làm phù hợp với năng lực, trình độ và ngành nghề đào tạo, phù hợp với năng lực, sở trưởng của mình thì không phải NLĐ nào cũng dễ tìm kiếm. Những người không có việc làm thực chất là họ đã bị thất nghiệp.

Đến nay, đã có nhiều quan điểm về thất nghiệp, song định nghĩa thất nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) được nhiều nhà kinh tế, nhiều nước đồng tình và vận dụng. Theo định nghĩa của tổ chức này thì: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành. Tổ chức này cũng quan niệm: Người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, không làm kể cả 1 giờ trong tuần lễ điều tra đang đi tìm việc làm và có điều kiện là họ làm ngay. Quan điểm này có ưu điểm là nói rõ được bản chất của thất nghiệp là thị trường lao động đã không tạo được việc làm đầy đủ cho những người có khả năng lao động và chấp nhận giá thị trường của lao động. Có nghĩa là ngay cả trường hợp thị trường lao động cân bằng thì vẫn tồn tại thất nghiệp. Thông thường người ta gọi đó là thất nghiệp tự nhiên, đó là mức thất nghiệp mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải chấp nhận. Tuy nhiên, mức thất nghiệp tự nhiên ở các quốc gia khác nhau là khác nhau bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của thị trường lao động, mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề...

Ngoài quan điểm trên còn tồn tại nhiều quan điểm khác về thất nghiệp như sau:

- Ở Thái Lan quan niệm: Người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc.

- Nhật Bản quan niệm: Người thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xin việc làm.

- Luật BHTN của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: Người thất nghiệp là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn.

Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm,

đang không có việc làm”. Quan điểm này có điểm hợp lý là bao hàm được nhiều dạng thất nghiệp nhưng không đề cập đến thị trường lao động và không đưa ra căn cứ tính toán tỷ lệ thất nghiệp. Bộ Luật Lao động (được sửa đổi năm 2002), ngoài việc quy định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, đã quy định về thất nghiệp và người thất nghiệp như sau:

- Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì để hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động.

- NLĐ có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho NLĐ có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm.

- NLĐ thiếu việc làm là người trong khoảng thời gian điều tra, có thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do Nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ.

- Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương tối thiểu.

Người thất nghiệp là những người từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, đến 55 tuổi đối với nữ, làm việc theo hợp đồng lao động, có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra.

Theo đó, ở Việt Nam người được coi là thất nghiệp bao gồm:

- NLĐ đang làm việc bị mất việc vì các lý do khác nhau như doanh nghiệp phá sản; doanh nghiệp sắp xếp lại sản xuất, kinh doanh hoặc áp dụng công nghệ mới; doanh nghiệp giải thể theo quy định của pháp luật; NLĐ bị chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, bị sa thải, hợp đồng lao động hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng;

- NLĐ mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc thôi học nhưng chưa tìm được việc làm;

- Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hết nghĩa vụ quân sự, NLĐ đi xuất khẩu lao động về nước muốn làm việc nhưng chưa có việc làm;

- Những đối tượng sau thời gian quản giáo hoặc chữa trị bệnh đang có nhu cầu về việc làm;

- Những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất. Những người không bị coi là người thất nghiệp bao gồm:

- Những người có việc làm nhưng hiện tại không làm việc vì một lý do nào đó như: Nghỉ phép, nghỉ ốm, tai nạn,…

- Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việc làm.

Như vậy, không phải tất cả những người không có việc làm đều là người thất nghiệp, chỉ những người không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp. Người thất nghiệp được quy định trong Bộ Luật Lao động của Việt Nam bao gồm cả những NLĐ đã từng đi làm và cả những người chưa từng đi làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm. NLĐ thiếu việc làm không được coi là người thất nghiệp.

Điều 3 của Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam quy định người thất nghiệp là: “Người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Quan điểm này chưa đề cập đến lý do thất nghiệp là chủ quan hay khách quan. Do đó thường dẫn đến những nhầm lẫn trong việc xử lý BHTN.

Có thể thấy rằng, dù các cách tiếp cận có khác nhau, nhưng đều thống nhất rằng, một NLĐ được coi là thất nghiệp phải thể hiện đầy đủ các đặc trưng sau: (1) Là NLĐ, có khả năng lao động, (2) Đang không có việc làm, (3) Đang đi tìm việc làm.

Kế thừa các quan điểm về thất nghiệp nêu trên, dưới góc độ tiếp cận QLNN về BHTN, có thể hiểu thất nghiệp như sau: Thất nghiệp là tình trạng những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tích cực tìm việc làm nhưng chưa tìm được việc làm theo nhu cầu, đã đăng ký ở các cơ sở quản lý lao động xã hội.

Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp

Nội hàm của khái niệm này cho thấy, các nội dung như trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tích cực tìm việc làm được coi là những đặc trưng, dấu hiệu nhận diện cơ bản của thất nghiệp. Nội dung đã đăng ký ở các cơ sở quản lý lao động xã hội nhấn mạnh hơn nữa đến khía cạnh tích cực tìm việc làm của người thất nghiệp, đồng thời chỉ ra cơ sở, phương thức tính toán thực tế số lượng người thất nghiệp. Khái niệm này cũng phân biệt được người thất nghiệp thật sự với người không có việc làm nhưng không muốn đi tìm việc làm và người làm không hết thời gian ở khu vực nông thôn.

1.2. Phân loại thất nghiệp

Có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu và việc lựa chọn tiêu thức phân loại. Căn cứ vào tính chất thất nghiệp, người ta phân ra các loại thất nghiệp sau:

- Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp mà bất cứ quốc gia nào cũng phải có. Loại này xảy ra do quy luật cung cầu của thị trường sức lao động. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ lạm phát. Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên ở mỗi nước mỗi khác và có xu hướng tăng lên.

- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi mất cân đối giữa cung và cầu về các loại lao động. Cầu của lao động này tăng lên, loại lao động khác lại giảm xuống, cung điều chỉnh không kịp cầu. Đây là dạng thất nghiệp do NLĐ và người thuê mướn lao động không tìm được nhau vì những lý do khác biệt về địa lý, thiếu thông tin, chuyển đổi nghề, sinh viên, học sinh mới tốt nghiệp, thị trường lao động hoạt động không hiệu quả… Trong quá trình vận động của nền KTTT, sẽ có những ngành kinh tế thu hút nhiều lao động, nhưng cũng có ngành bị thu hẹp lại nên dư thừa lao động, loại thất nghiệp này thường thấy rõ nhất giữa 2 ngành nông nghiệp và công nghiệp. Do ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp làm dư thừa lao động nông nghiệp, trong khi đó nhu cầu lao động trong công nghiệp lại tăng lên do thu hút được vốn đầu tư nhưng chưa kịp đào tạo và đào tạo lại nghề cho những lao động dư thừa để kịp thời bổ sung.

- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển lao động giữa các vùng, các miền, thuyên chuyển công tác giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất. Loại này khá phổ biến và diễn ra thường xuyên. Thất nghiệp tạm thời còn được gọi là thất nghiệp bề mặt.

- Thất nghiệp chu kỳ: Loại này xảy ra do mức cầu về lao động giảm xuống. Sau một chu kỳ kinh tế phát triển hưng thịnh, đến giai đoạn suy thoái, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp và lạm phát gia tăng

mạnh. Loại thất nghiệp này diễn ra theo chu kỳ và vì thế đã mang tính quy luật. Nói cách khác đây là loại thất nghiệp liên quan đến chu kỳ kinh tế tại sao mà tổng cầu thấp hơn tổng cung dẫn tới doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và phải giảm thuê mướn lao động.

- Thất nghiệp thời vụ: Phát sinh theo các chu kỳ sản xuất kinh doanh, loại này xảy ra phổ biến trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp.

- Thất nghiệp công nghệ: Do sự áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất ngày càng được tăng cường làm cho NLĐ trong các dây chuyền sản xuất bị dôi ra, từ đó làm phát sinh thất nghiệp công nghệ. Thất nghiệp công nghệ thể hiện rõ nhất từ những năm đầu của thập kỷ 60 trở lại đây.

Căn cứ vào ý chí NLĐ, có thể phân thành 2 loại thất nghiệp:

- Thất nghiệp tự nguyện: Là hiện tượng NLĐ từ chối một công việc nào đó do mức lương được trả không thỏa đáng hoặc do không phù hợp với trình độ chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc.

- Thất nghiệp không tự nguyện: Là hiện tượng NLĐ có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả, nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sử dụng nên trở thành thất nghiệp.

Căn cứ vào mức độ thất nghiệp, có thể chia thành 2 loại thất nghiệp là:

- Thất nghiệp toàn phần: Có nghĩa là NLĐ hoàn toàn không có việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8h và họ vẫn có nhu cầu làm thêm.

- Thất nghiệp bán phần: Có nghĩa là NLĐ vẫn có việc làm, nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt 3 đến 4 giờ trong một ngày làm việc và họ vẫn có nhu cầu làm thêm.

1.3. Nguyên nhân gây ra thất nghiệp

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế.

Có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp sau:

Một là, chu kỳ kinh doanh

Trong nền KTTT, quá trình phát triển kinh tế không diễn biến theo chiều đi lên một cách trơn chu mà ngược lại, thường xuyên biến động lên xuống theo chu kỳ với bốn giai đoạn: Hưng thịnh, suy thoái, khủng hoảng, đình trệ. Hoặc trải qua hai giai đoạn thu hẹp và mở rộng. Phụ thuộc vào các giai đoạn này, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng mang tính chu kỳ. Tính chất biến động theo chu kì ảnh hưởng tới việc làm và khiến tỉ lệ thất nghiệp tăng lên, nhất là khi nền kinh tế trong giai đoạn thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hai là, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nền kinh tế

Ngày nay khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là tự động hóa vào quá trình sản xuất sẽ đẩy một số NLĐ thủ công và cơ khí trong dây chuyền sản xuất vào đội ngũ những người thất nghiệp. Hơn nữa sự thay đổi công nghệ với tốc độ nhanh chóng và ngày càng phổ biến đã làm xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới dựa trên công nghệ cao khiến những người làm trong ngành công nghiệp cũ không còn việc làm và phải đào tạo lại để chuyển nghề hoặc lâm vào tình trạng thất nghiệp tạm thời. Việc ứng dụng các thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành kinh tế có xu hướng sử dụng ngày càng ít lao động hơn, thậm chí sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao cũng khiến lao động phổ thông khó kiếm việc làm.

Để nâng cao sức cạnh tranh, các doanh nghiệp cũng tích cực đổi mới phương thức quản lí, tìm cách ứng dụng khoa học kỹ thuật, thay đổi công nghệ dẫn đến làm gia tăng lượng lao động dôi dư. Nếu sự gia tăng lao động dôi dư nhiều hơn sự gia tăng việc làm mới sẽ làm cho những NLĐ dôi dư trở thành người thất nghiệp.

Ba là, sự gia tăng dân số, tăng nguồn cung lao động cùng với quá trình quốc tế hóa và hội nhập cũng khiến nguy cơ thất nghiệp cao hơn.

Dân số tăng nhanh dẫn đến gia tăng lực lượng lao động, trong khi đó nếu nền kinh tế phát triển với tốc độ không tương ứng, không tạo đủ việc làm thì lực lượng lao động dư thừa sẽ ngày càng lớn. Thêm vào đó quốc tế hóa lực lượng lao động cũng cho phép nhập khẩu và xuất khẩu lao động một cách dễ dàng hơn. Nếu lượng lao động xuất khẩu thấp hơn lượng lao động nhập khẩu thì số người thất nghiệp trong nước sẽ tăng.

Bốn là, bản thân NLĐ

Bản thân NLĐ cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tình trạng thất nghiệp của mình. Nhiều NLĐ không muốn làm việc, không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm việc, mức lương theo giá thị trường… khiến họ muốn đi tìm việc làm mới, địa điểm mới, mức lương mới. Trong thời gian chưa tìm được việc làm như mong muốn thì những người này bổ sung vào lực lượng thất nghiệp tạm thời. NLĐ có trình độ, chuyên môn không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hoặc không thích ứng được với thị trường lao động cũng dẫn đến thất nghiệp.

Cùng với sự phát triển của các thị trường khác trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, thị trường lao động cũng được phát triển đồng bộ và từng bước tuân thủ tính đầy đủ của một thị trường.

Hệ thống lý luận về thị trường lao động trên thế giới đã nghiên cứu rất cơ bản về các yếu tố của thị trường: Như nguồn lao động, việc làm, tiền lương, điều kiện làm việc, thông tin thị trường… cũng như tác động tương hỗ của thị trường lao động đến các thị trường hàng hoá thông thường khác và thị trường tài chính. Những nguyên nhân gây ra nạn thất nghiệp và các loại hình thất nghiệp cũng rất đa dạng và khác biệt nhau. Do vậy, cần nghiên cứu đồng bộ một hệ thống chính sách việc làm và thị trường lao động nhằm quản lý, điều tiết sự hoạt động của thị trường nhằm hạn chế những tác hại do nạn thất nghiệp gây ra.

1.4.  Ảnh hưởng của thất nghiệp

Thất nghiệp không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân NLĐ và gia đình họ mà còn tác động mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi loại thất nghiệp có những tác động đến nền kinh tế một cách khác nhau và nhà nước quan tâm giải quyết theo các phương thức khác nhau. Có thể chia ảnh hưởng của thất nghiệp ở các góc độ sau:

- Ảnh hưởng của thất nghiệp đối với bản thân NLĐ và gia đình họ

Thất nghiệp có thể gây ra những hậu quả rất trầm trọng. Bởi vì khi bị mất việc làm thường đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu nhập chủ yếu và đương nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng. Thất nghiệp gắn liền với sự mất mát thu nhập và có thể sẽ dẫn tới những bi kịch. Hậu quả là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và kéo dài sẽ dẫn tới nợ nần chồng chất, không có khả năng trả, không có nguồn thu nhập để trả. Hậu quả của thất nghiệp còn không tự động xóa bỏ những rào cản đối với những người có việc làm trở lại, hòa nhập với đời sống xã hội chung, điều này diễn ra đối với những NLĐ, đặc biệt đối với người sau khi thất nghiệp, phải xác lập một quan hệ lao động mới, thường đi liền với điều kiện làm việc và điều kiện về tài chính kém hơn việc làm trước đó.

Thất nghiệp không chỉ mang lại những hậu quả về tài chính mà còn là hậu quả về khả năng nghề nghiệp, khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là họ bị mất đi khả năng nâng cao trình độ nghề nghiệp, điều đó sẽ đe dọa không chỉ về phía NLĐ, họ sẵn sàng bị thất nghiệp mà còn ngăn cản việc học nghề hay chuyển sang một nghề khác. Nhìn chung, gia tăng thất nghiệp thường đi liền với suy giảm chất lượng cuộc sống của người thất nghiệp.

- Ảnh hưởng của thất nghiệp đối với nền kinh tế

Thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển. Vì khi đó có một bộ phận NLĐ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động những vì lý do khách quan không có việc làm thì dĩ nhiên sức sản xuất trong nước và thu nhập quốc dân thấp hơn so với khi mọi người đều có việc làm. Mặt khác, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, thất nghiệp biến động theo tỷ lệ nghịch với tăng trưởng. Nếu nền kinh tế tăng trưởng cao thì thất nghiệp sẽ giảm, số người làm việc trong các ngành kinh tế tăng. Tỷ lệ thất nghiệp cao cho thấy nền kinh tế đang ở trong tình trạng hoạt động phi hiệu quả. Thực tế và lý thuyết đã chứng minh, thất nghiệp thường tăng tỷ lệ thuận với số lượng doanh nghiệp giải thể, phá sản. Đến lượt mình sự suy giảm năng lực sản xuất của các doanh nghiệp cũng có nghĩa là nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái. Thất nghiệp tăng khiến cho NLĐ mất thu nhập sẽ giảm nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân, gia đình, tổng cầu xã hội giảm khiến cho hàng hóa sản xuất ra khó tiêu thụ, tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại. Thất nghiệp có thể làm cho nền kinh tế bất ổn, nó làm cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hơn và khả năng phục hồi chậm.

- Đối với chính trị, xã hội

Khi bị thất nghiệp, NLĐ luôn ở trong tình trạng hoang mang, lo lắng, căng thẳng và thất vọng, nhất là nếu NLĐ là trụ cột, nuôi sống cả gia đình thì áp lực tâm lý càng đè nặng lên NLĐ, từng cá nhân là tế bào của gia đình, mỗi gia đình là tế bào của xã hội, thất nghiệp tác động đến cá nhân NLĐ có nghĩa là đã tác động đến toàn xã hội. Từ đó, thất nghiệp sẽ dẫn tới nhiều tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, đẩy NLĐ đến chỗ bất chấp kỷ cương, pháp luật, hủy hoại đạo đức làm mọi công việc để kiếm kế sinh nhai, kiếm tiền trang trải cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, ma túy, …

Thất nghiệp làm cho tình hình chính trị trở nên bất ổn, rối loạn nếu không được can thiệp giải quyết kịp thời. Thất nghiệp gây ra các cuộc biểu tình, đình công…Thất nghiệp còn làm cho NLĐ giảm lòng tin vào chế độ, giảm lòng tin vào khả năng lãnh đạo của Chính phủ cầm quyền. Đây là lý do mà các quốc gia luôn quan tâm đến vấn đề thất nghiệp, luôn chủ động có những giải pháp để hạn chế thất nghiệp như giải quyết việc làm, TCTN, đào tạo lao động… nhằm phát triển bền vững kinh tế - xã hội.

Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?... Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm thuê luận văn.

Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

2. Bảo hiểm thất nghiệp và QLNN về BHTN

2.1 Bảo hiểm thất nghiệp

Hiện có nhiều cách tiếp cận khác nhau về BHTN, dưới góc độ kinh tế- xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảm bảo cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung. Quỹ này được hình thành từ NLĐ, người sử dụng lao động và sự trợ cấp của Nhà nước.

Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả cho TCTN để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa NLĐ trở lại làm việc.

Theo cách hiểu thông thường của Việt Nam thì BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Quan điểm này nhấn mạnh tới các khía cạnh sau:

- Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của NLĐ trước khi bị thất nghiệp.

- NLĐ tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập thị trường lao động.

Theo Luật BHXH thì BHTN là sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ trong trường hợp bị mất việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm, đồng thời có một số biện pháp để họ nhanh chóng quy trở lại với thị trường lao động.

Theo Luật Việc làm đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thì BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN.

Như vậy, dù các cách tiếp cận có khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định.

Giống như các loại hình BHXH khác, BHTN được thiết lập nhằm hỗ trợ NLĐ và gia đình họ ổn định cuộc sống khi gặp rủi ro không có việc làm. Có nghĩa là về bản chất, BHTN chính là hình thức san sẻ rủi ro giữa những NLĐ với nhau nhằm giúp đỡ những người thất nghiệp vượt qua khó khăn, BHTN cũng dựa trên cơ chế có đóng góp BHTN thì mới được hưởng TCTN.

Khác với các dạng BHXH khác, BHTN là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ chỉ trong trường hợp họ bị mất việc làm tạm thời và đang có nhu cầu tìm việc làm. Hơn nữa, BHTN không những trợ cấp tài chính cho người thất nghiệp, mà còn chi trả cho hỗ trợ học nghề, tư vấn việc làm…

Như vậy, từ góc độ trợ cấp, có thể nói BHTN là một bộ phận của BHXH. Chính vì vậy, ở đa số các nước, BHTN nằm trong hệ thống BHXH nói chung. Tuy nhiên, do tính đặc thù, BHTN không chỉ đơn thuần là TCTN và còn có những hỗ trợ khác để NLĐ nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động. Vì vậy, có những nước tách BHTN ra thành hệ thống riêng. Hơn nữa, từ các quan niệm nêu trên, thất nghiệp là một trong những nguyên nhân làm ngừng thu nhập của NLĐ làm công ăn lương và vì vậy, người thất nghiệp là một trong những đối tượng cần được xã hội bảo vệ thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHTN từ sự huy động, sự đóng góp của số đông NLĐ và người sử dụng lao động, để có nguồn chi trả cho số ít người bị thất nghiệp trong xã hội. Sự huy động này và cách thức chi trả này chính là một trong những hoạt động của BHTN.

Xét về cấu trúc hệ thống, theo các Công ước của tổ chức lao động quốc tế (ILO) BHXH (theo nghĩa rộng) có 9 nhánh chế độ, trong đó có chế độ TCTN. Trong cấu trúc này, BHTN là một bộ phận quan trọng mà các nước KTTT thường thực hiện. Tuy hiện nay có xu hướng tách BHTN ra khỏi BHXH bởi nội dung hoạt động của nó, nhưng về bản chất BHTN vẫn là một bộ phận của BHXH. Từ cách tiếp cận như vậy, có thể coi BHTN là “hệ thống con”, thuộc hệ thống BHXH quốc gia, còn về tổ chức thực hiện có thể có nhiều cách khác nhau. Dù có những đặc thù, có khác biệt nhất định, nhưng BHTN vẫn phải hoạt động theo cơ chế chung, trong khuôn khổ chung của hệ thống BHXH quốc gia.

Về hệ quả tài chính: BHTN thực hiện theo cơ chế “đóng - hưởng” như cơ chế của BHXH. Có nghĩa là NLĐ muốn được hưởng TCTN khi bị mất việc làm, thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải có đóng góp bảo hiểm. Quỹ BHTN là một quỹ thành phần trong quỹ BHXH. Do đó, khi người thất nghiệp nhiều, thì quỹ BHTN phải chi nhiều và ngược lại. Hơn nữa, trong thời gian NLĐ bị thất nghiệp, họ không phải đóng phí BHXH nói chung và BHTN nói riêng. Như vậy cả quỹ BHXH và quỹ BHTN đều bị giảm nguồn thu. Nói cách khác, khi thất nghiệp nhiều, nguồn BHXH quốc gia bị ảnh hưởng lớn. Ngược lại, khi NLĐ có việc làm, có thu nhập, họ tham gia đóng góp BHXH và BHTN, làm cho quỹ BHTN nói riêng và nguồn lực BHXH tăng lên, có điều kiện để đảm bảo chi cho các đối tượng khác, các chế độ khác của hệ thống BHXH. Mặt khác, việc điều chỉnh các chính sách về BHTN (về tài chính) đều có ảnh hưởng đến tài chính BHXH quốc gia. Đây cũng có thể được coi là mối quan hệ hữu cơ giữa BHTN và BHXH.

Về hệ quả xã hội: Mục đích cuối cùng và cơ bản của BHTN đảm bảo cho NLĐ và gia đình họ trước những “rủi ro xã hội”, có được cuộc sống an lành. Nếu như hệ thống BHTN thực hiện tốt chức năng bảo đảm thu nhập, thay thế cho NLĐ khi họ bị mất khoản thu nhập từ lao động do bị thất nghiệp, thì Nhà nước và cộng đồng giảm thiểu được những chi phí về tài chính và chi phí xã hội để khắc phục những hậu quả do thất nghiệp gây ra.

Do tính đặc thù của BHTN về đối tượng tác động, về phương thức thực hiện và tính nhạy cảm đối với nền kinh tế cũng như đối với thị trường lao động. Đối tượng tác động của BHTN là NLĐ, nhưng không phải tất cả mọi NLĐ mà chủ yếu là số lao động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các cơ sở sự nghiệp. Xác suất nảy sinh rủi ro thất nghiệp rất không đồng đều giữa các nhóm lao động; giữa các nhóm doanh nghiệp. Vì thế, việc tổ chức thực hiện BHTN rất khác so với các cấu trúc khác trong BHXH. Như nêu trên, trong kết cấu chi của BHTN, ngoài TCTN còn có trợ cấp học nghề và các hỗ trợ để tìm kiếm việc làm mới… Điều này càng cho thấy tính phong phú, tính đa dạng và tính phức tạp của hệ thống BHTN trong nền KTTT.

Ở Việt Nam BHTN là một chính sách mới nằm trong hệ thống chính sách ASXH của Nhà nước có tác động trực tiếp đến NLĐ, người sử dụng lao động. BHTN là chính sách cần thiết trong điều kiện nền KTTT để dung hòa yêu cầu sử dụng hiệu quả lao động nhằm tăng sức cạnh tranh với duy trì môi trường công bằng để mọi người có điều kiện thực hiện quyền lao động của mình.

Thông thường khi nói đến BHTN người ta thường đề cập đến TCTN. Trong cuốn sách Các chương trình bảo đảm xã hội các nước trên thế giới do Cơ quan Quản lý Bảo đảm xã hội Mỹ xuất bản đã đề cập đến các khoản TCTN như là một hình thức “đền bù sự mất mát thu nhập do kết quả của tình trạng thất nghiệp bắt buộc”.

Hiện nay, hầu hết các nước có nền KTTT phát triển đều đã tiến hành xây dựng chế độ TCTN theo các mục tiêu khác nhau để ngăn chặn và đồng thời đảm bảo đời sống cho người thất nghiệp. Theo ILO, tính đến năm 1999 đã có 172 nước thiết lập hệ thống ASXH, trong đó có 69 nước thiết lập chế độ BHTN, trong đó có ½ số nước thực hiện theo hình thức bảo hiểm bắt buộc và có vị trí như là một nhánh của hệ thống BHXH. Tuy nhiên, trong BHTN việc thiết lập và thực hiện không phải là vấn đề đơn giản, một số nước đã phải hủy bỏ không tiếp tục thực hiện, mặc dù đã ban hành Luật về TCTN. Vì nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Nhà nước, việc đảm bảo chế độ này còn đòi hỏi ở những yếu tố khách quan của nền kinh tế - xã hội.

TCTN có mục đích giúp đỡ về mặt tài chính, tạo điều kiện để NLĐ duy trì cuộc sống ở một chừng mực nhất định khi họ mất việc làm. Nói cách khác, khi thất nghiệp, NLĐ mất nguồn thu nhập nên cần có một khoản trợ cấp để ổn định cuộc sống trong thời gian thất nghiệp. Khoản này gọi là TCTN. Để được hưởng TCTN, NLĐ phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính và cần có sự trợ giúp của người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội để hình thành quỹ đảm bảo chi trả cho các đối tượng theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, có thể hiểu BHTN như sau: BHTN là một hình thức BHXH dựa trên sự đóng góp của Nhà nước, NLĐ và người sử dụng lao động nhằm bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi mất việc làm, tạo điều kiện cho NLĐ tìm được việc làm thông qua tư vấn và giới thiệu việc làm hoặc đào tạo lại.

Nội hàm khái niệm trên thể hiện:

- BHTN là một hình thức BHXH nên cơ chế đóng góp có sự tham gia của cả Nhà nước, NLĐ và tổ chức sử dụng lao động.

- Mục đích của BHTN là bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ và hỗ trợ tài

chính thông qua đào tạo, đào tạo lại NLĐ khi họ mất việc làm, trên cơ sở đó ổn định kinh tế, chính trị xã hội của các quốc gia.

- Nội dung chi trả BHTN bao gồm: Chi trả tài chính trực tiếp cho NLĐ và chi trả cho các dịch vụ giảm thiểu thất nghiệp như đào tạo lại và tư vấn giới thiệu việc làm.

2.2 Ý nghĩa của BHTN

- Ý nghĩa của BHTN đối với NLĐ

Mục đích đầu tiên của chính sách BHTN là bù đắp thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm. Chính vì thế trong thời gian hưởng BHTN, NLĐ không những được trợ cấp tài chính mà còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế và được tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù hợp với NLĐ và thị trường để sớm tìm được việc làm thích hợp. Những hoạt động hỗ trợ này không những góp phần làm giảm khó khăn trước mắt trong cuộc sống của NLĐ khi họ tạm thời bị thất nghiệp, mà còn tạo điều kiện cho họ có cuộc sống ổn định hơn.

NLĐ được nhận BHTN trong thời gian khó khăn do mất việc làm, NLĐ cũng cảm nhận được trách nhiệm của Nhà nước đối với mình, sự cưu mang của cộng đồng khi gặp khó khăn, nhờ đó không những họ có khả năng ổn định tương đối về cuộc sống, mà còn giảm tâm lý bất bình với xã hội, với Nhà nước và cộng đồng.

Ở các nước có nền KTTT, thu nhập chủ yếu của NLĐ thường gắn với việc làm; khi không còn việc làm, thu nhập đương nhiên cũng không còn. Khi đó NLĐ và gia đình họ có nguy cơ rơi vào cảnh túng quẫn, bị bần cùng hoá. Để khắc phục tình cảnh này, bản thân NLĐ phải tích cực tìm chỗ làm việc mới. Đây là biện pháp khá năng động, có tính cá nhân. Tuy nhiên, không phải ai và lúc nào cũng có thể tìm được việc làm ngay, vì thất nghiệp thường song hành với thời kỳ nền kinh tế bị suy thoái, doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nên khó tạo ra chỗ làm việc mới cho NLĐ. Một biện pháp khác có tính xã hội cao, là nhà nước tổ chức BHTN cho NLĐ. BHTN xét về mặt xã hội là biện pháp có tính thụ động, nhưng lại có ý nghĩa tích cực đối với từng cá nhân NLĐ khi bị thất nghiệp, giúp được họ có một khoản thu nhập bù đắp lại mức thu nhập đã bị mất do bị mất việc làm; tạo điều kiện cho họ sớm quay trở lại thị trường lao động, tránh không bị rơi vào tình cảnh túng quẫn.

- Đối với người sử dụng lao động

Quỹ BHTN sẽ chi trả TCTN cho NLĐ khi họ bị mất việc làm thay cho người sử dụng lao động, thay cho việc người sử dụng lao động chi trợ cấp mất việc làm, thôi việc cho NLĐ theo Luật Lao động. Do vậy doanh nghiệp sẽ nhẹ gánh trách nhiệm hơn trong những giai đoạn khi họ gặp khó khăn phải sa thải lao động hoặc cho NLĐ tạm nghỉ việc. Dưới góc độ này, BHTN không chỉ trợ giúp NLĐ, mà còn trợ giúp cả doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thực hiện cơ chế dành dụm khi hoạt động sản xuất kinh doanh tốt nhằm chi dùng khi gặp khó khăn.

Hơn nữa, khi NLĐ biết rõ nếu thất nghiệp mình sẽ được hưởng BHTN, họ sẽ yên tâm làm việc cho doanh nghiệp hơn. Điều này sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất.

Tuy nhiên, hiện không ít doanh nghiệp Việt Nam chưa nhận thức đúng đắn về Ý nghĩa này nên khi làm ăn tốt họ thường không muốn đóng quỹ BHTN cùng NLĐ và Nhà nước. Điều này không chỉ vi phạm các quy định pháp luật mà còn ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp với NLĐ, với cộng đồng, ở một góc độ nào đó doanh nghiệp còn không thực hiện trách nhiệm đạo đức với NLĐ.

- Ý nghĩa của BHTN đối với Nhà nước.

Thất nghiệp là một vấn đề lớn của xã hội, của bất kỳ quốc gia nào, chính sách hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp luôn được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Thực hiện chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHTN được coi là trách nhiệm và nhiệm vụ của Nhà nước. Vì thế, Nhà nước thường trích một khoản từ ngân sách để đóng góp vào quỹ BHTN. Đóng góp vào quỹ BHTN, Nhà nước có nguồn để khắc phục tác động tiêu cực của thất nghiệp đối với xã hội và Nhà nước. Đồng thời, Nhà nước có thể sử dụng quỹ BHTN với mục đích ổn định xã hội khi Nhà nước thực hiện cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước dẫn đến sa thải lao động dôi dư, tái cơ cấu các ngành nghề kinh tế quốc dân. Nhờ BHTN, Nhà nước có cơ chế và công cụ để kiểm soát rủi ro về xã hội, chính trị khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Nhờ có BHTN nên gánh nặng ngân sách sẽ giảm hơn khi thất nghiệp xảy ra (thường vào thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách nhà nước eo hẹp lại phải chi nhiều cho các vấn đề xã hội khác). Mặt khác khi có BHTN, vấn đề căng thẳng xã hội sẽ không xảy ra, Nhà nước không còn phải lo đối phó với các cuộc biểu tình, không phải chi nhiều ngân sách để giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm do nguyên nhân thất nghiệp gây ra.

Trong BHTN, ngoài việc chi trả TCTN, NLĐ còn được học nghề để có cơ hội tìm được nghề mới; được hỗ trợ vay vốn để tự tạo việc làm hoặc hỗ trợ trong tìm kiếm việc làm mới; tạo điều kiện cho họ nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động. Đây là ý nghĩa rất nhân văn của BHTN, góp phần rất lớn vào ổn định xã hội và đây cũng là mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH và ASXH nào. Ngược lại, khi hệ thống BHTN hoạt động không hiệu quả hoặc không được thực thi, NLĐ khi bị thất nghiệp không được bảo vệ, khi đó họ rơi vào nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, hoặc họ sẽ trở thành những đối tượng rất dễ “gây rối” xã hội, thậm chí gây ra những tệ nạn xã hội, làm xã hội mất an toàn, và như vậy “gánh nặng” lại đặt lên vai Nhà nước

Thực tế thời gian qua trên thế giới đã chứng minh điều đó. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, việc làm của tất cả các quốc gia đều bị ảnh hưởng, lượng người thất nghiệp tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên, để giải quyết hậu quả của thất nghiệp không phải nước nào cũng thực hiện được thành công. Những nước có hệ thống BHTN phát triển và đa dạng, thì hậu quả của thất nghiệp được giảm thiểu hơn; trong khi đó, những nước hệ thống BHTN chưa phát triển, hoặc không đồng bộ hậu quả thất nghiệp để lại rất nặng nề.

- Đối với xã hội

BHTN là một chính sách ASXH, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quá trình thực hiện chính sách, mang tính chất tương trợ, lấy số đông bù số ít. Chính sách BHTN cần cho tất cả mọi người trong độ tuổi lao động. Nhờ có BHTN mà xã hội đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi mất việc làm. Chính sách BHTN được thực hiện tốt sẽ góp phần ổn định xã hội, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng bền vững.

BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho NLĐ trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động. Như vậy có thể thấy BHTN vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp vừa là một chính sách xã hội rất quan trọng.

Với cách tiếp cận này, BHTN có hai chức năng chủ yếu: Chức năng bảo vệ và chức năng khuyến khích. Với chức năng bảo vệ, BHTN tổ chức bù đắp thu nhập cho người thất nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao động. Với chức năng khuyến khích, BHTN kích thích người thất nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đi làm việc. Qua hai chức năng này có thể thấy, BHTN không chỉ có ý nghĩa đối với NLĐ mà còn có ý nghĩa đối với cả người sử dụng lao động và nhà nước.

Thông thường để đánh giá khách quan, thường người ta đánh giá tính hiệu quả của chính sách BHTN. Hiệu quả và công bằng của BHTN được thể hiện qua hiệu quả Pareto. Theo Vilfredo Pareto, một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm ít nhất một người được lợi mà không phải làm thiệt hại đến bất kì ai. Nghĩa là, ngoài những người nhận được trợ cấp từ BHTN sẽ được lợi, mà những người tham gia BHTN mà không được nhận hoặc chưa được nhận những khoản trợ cấp này cũng không bị thiệt hại.

Khái niệm công bằng xã hội không hoàn toàn không đồng nhất, nó được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu ở hai cách sau:

Thứ nhất, khái niệm công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với những người có tình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một số tiêu chí nào đó như: Thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…)

Thứ hai, khái niệm công bằng dọc là đối xử khác nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có.

Phân phối lại thu nhập là hình thức điều tiết thu nhập tài sản trong xã hội nhằm tạo công bằng cho xã hội như lấy của người giàu chia cho người nghèo, trợ cấp… và BHTN chính là một chính sách phân phối lại thu nhập của Chính phủ. Có hai trường phái khác nhau về mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng xã hội: Trường phái thứ nhất cho rằng hiệu quả và công bằng có mâu thuẫn, có nghĩa là nếu ưu tiên hiệu quả thì phải chấp nhận bất công và ngược lại; trường phái thứ hai cho rằng hiệu quả và công bằng không nhất thiết phải có mâu thuẫn, có nghĩa là không nhất thiết phải có sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng.

Sự đánh giá về tính hiệu quả, công bằng, ý nghĩa của BHTN là cơ sở khoa học để các quốc gia phát triển loại hình BHTN, trong đó có Việt Nam.

2.3 Đặc điểm của BHTN

BHTN là một hình thái bảo hiểm đặc biệt, nó không mang tính bắt buộc rõ ràng, nhưng cũng không phải là một dạng bảo hiểm thương mại. Tính đặc biệt này thể hiện qua đối tượng, cơ chế thu, cơ chế chi cũng như hình thái cung cấp bảo hiểm.

Về bản chất, TCTN cũng như các chế độ trợ cấp khác cùng xuất phát từ quan hệ lao động, cùng bù đắp rủi ro cho NLĐ, nhưng lại có những đặc điểm riêng khác biệt về đối tượng, mục đích và cách thức giải quyết.

- Về đối tượng:

Đối tượng của TCTN chủ yếu là NLĐ trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng bị mất việc làm và có nhu cầu đi làm việc. Việc NLĐ bị mất việc làm là do yếu tố khách quan, tức là không tự nguyện. Do vậy, đối tượng được hưởng của TCTN thường hẹp hơn đối tượng thất nghiệp thực tế. Nói cách khác là không phải mọi người thất nghiệp đều được hưởng TCTN.

- Về mục đích:

Giống như các chế độ trợ cấp khác trong hệ thống BHXH, TCTN có mục đích bù đắp thu nhập cho NLĐ khi gặp rủi ro, biến cố khách quan. Tuy nhiên, ngoài mục đích này hoạt động của chế độ thất nghiệp còn có mục đích nữa giúp cho NLĐ quay trở lại thị trường lao động với các biện pháp cung cấp thông tin thị trường lao động, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề, tạo việc làm tạm thời… Chính sách BHTN chỉ có thể giúp Nhà nước cải thiện một phần nào hậu quả tiêu cực mà thất nghiệp gây ra cho nền kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, BHTN mang tính ASXH. Mục tiêu của BHTN là tích lũy trong thời kỳ kinh tế phát triển thuận lợi để có kinh phí tài trợ cho những người thất nghiệp trong thời kỳ kinh tế suy thoái với phương châm lấy số đông bù số ít và mục tiêu duy trì liên kết, ổn định xã hội.

- Đặc điểm về công tác quản lý thất nghiệp:

Công tác này giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thành công chế độ BHTN. Việc đăng ký thất nghiệp, thống kê số người thất nghiệp, phân loại thất nghiệp… Để đưa vào diện đối tượng hưởng TCTN là vấn đề rất khó khăn. Do vậy, công tác thống kê người thất nghiệp là giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện thành công của hoạt động TCTN. Đặc điểm về công tác quản lý BHTN thể hiện qua đặc điểm về cơ chế thu, về cơ chế chi.

Đặc điểm về thu BHTN: Cơ chế thu BHTN khá giống với cơ chế thu để hình thành quỹ hưu trí, nghĩa là pháp luật quy định người sử dụng lao động, NLĐ phải đóng góp một phần để tạo một quỹ độc lập nhằm bảo đảm việc chi trả, hỗ trợ người thất nghiệp, cung cấp dịch vụ nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Thu BHTN dựa trên mức lương, phụ cấp của NLĐ, đồng thời có sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước và doanh nghiệp. Tuy nhiên, khác với thu hình thành quỹ lương hưu, thu BHTN không có hình thức tự nguyện nên một số người muốn tham gia BHTN nhưng nếu không làm việc ở những cơ sở kinh tế đáp ứng điều kiện tham gia BHTN hoặc không có hợp đồng lao động thì cũng không được hưởng TCTN. Giống như phần đóng góp vào quỹ lương hưu, doanh nghiệp thường không mấy hứng thú với BHTN vì họ coi đó như là một phần chi phí tăng thêm mà doanh nghiệp phải chịu, trong khi doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo mức lương thực tế cạnh tranh mà NLĐ nhận được hàng tháng. NLĐ cũng không quan tâm lắm đến BHTN, vì họ coi đó như khoản phí ngoài lương do doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp cho BHXH. Do vậy, việc thu BHTN thường khó khăn hơn nhiều so với thu các loại hình bảo hiểm khác.

Đặc điểm về chi BHTN: Chi BHTN chỉ xuất hiện khi NLĐ tham gia BHTN bị thất nghiệp. Nó không phải chi trong một thời gian dài như lương hưu, nhưng đây lại là một khoản chi khá lớn, vì TCTN không những phải đảm bảo cung cấp phương tiện sống cơ bản cho NLĐ khi mất việc làm mà còn giúp họ tham gia đào tạo, nâng cao tay nghề để có thể tìm được việc làm mới. Thủ tục chi BHTN thường phức tạp hơn và chặt chẽ hơn…

Một đặc điểm khác nữa là, chính sách BHTN nhằm hình thành một quỹ tài chính độc lập, tự thu, tự chi và về lâu dài giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Sau khi thành lập, quỹ phải độc lập với ngân sách nhà nước để chủ động giải quyết vấn đề thất nghiệp.

Chế độ BHTN và các chế độ bảo hiểm khác tuy cùng xuất phát từ quan hệ lao động, nhưng khi thực hiện TCTN lại gắn liền với vấn đề việc làm, đảm bảo việc làm… Do vậy, BHTN có mối quan hệ đặc biệt với các chính sách về việc làm…

2.4 Quản lý Nhà nước về BHTN

Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về QLNN về BHTN. Theo cách hiểu thông thường nhất thì QLNN về BHTN là hoạt động QLNN nhằm mục đích điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực BHTN. Nói một cách cụ thể hơn, QLNN về BHTN là quá trình tác động và điều hành của Nhà nước vào hoạt động BHTN sao cho hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời làm cho BHTN phát huy được tác dụng và phục vụ mục đích mà Nhà nước đã đề ra.

QLNN về BHTN xuất phát từ chức năng và vai trò quản lý xã hội của Nhà nước. Trước hết, Nhà nước có tư cách là chủ thể điều hoà mối quan hệ lợi ích đối lập giữa NLĐ và người sử dụng lao động. Sự hình thành và phát triển của BHTN trên khắp thế giới luôn gắn liền với mối quan hệ lao động vốn có mâu thuẫn đối kháng nhau và đòi hỏi có sự can thiệp của Nhà nước. Với tư cách là trọng tài trong mối quan hệ này, sự can thiệp của Nhà nước đầu tiên thể hiện qua việc xây dựng và ban hành các chính sách về BHTN gắn kết quyền lợi và nghĩa vụ của cả NLĐ và người sử dụng lao động. Quá trình xây dựng, điều hành và giám sát hoạt động của hệ thống BHTN của Nhà nước còn hướng đến việc đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tham gia BHTN và giải quyết các mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa các bên.

Hơn nữa, thực hiện QLNN về BHTN còn là để bảo vệ quyền lợi của nhóm người có vị thế yếu hơn trong mối quan hệ lao động, đó là NLĐ. Mặc dù sự can thiệp của Nhà nước qua chính sách BHTN là vì lợi ích của cả hai bên trong mối quan hệ lao động. Song với vị thế yếu hơn nên rõ ràng NLĐ sẽ được bảo vệ hơn. Cũng chính vì vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới, BHTN được xác định một chính sách xã hội quan trọng vì nó liên quan đến đời sống của đông đảo NLĐ và gia đình họ. Khi phạm vi các đối tượng nằm trong diện bảo vệ của hệ thống BHTN càng được mở rộng thì càng cần có sự tác động quản lý của Nhà nước bởi Nhà nước được coi là người cuối cùng chịu trách nhiệm phúc lợi kinh tế và xã hội cho toàn bộ dân cư.

Cuối cùng, quỹ BHTN là một quỹ tài chính rất lớn nhằm đảm bảo quyền lợi được chi trả của NLĐ. Quỹ BHTN là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia có ảnh hưởng qua lại với các bộ phận khác trong hệ thống và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền tài chính quốc gia. Để bảo toàn và tăng trưởng quỹ, từ đó đảm bảo cho việc sử dụng quỹ có hiệu quả cao nhất và hoàn thành đúng vai trò chức năng của quỹ trong hệ thống tài chính quốc gia, cần thiết phải có sự giám sát quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của Quỹ BHTN. Không những vậy, Nhà nước còn có thể bảo hộ cho sự tồn tại và hoạt động của quỹ tài chính BHTN. Đặc biệt, trong thời kỳ có suy thoái kinh tế hoặc khi tài chính có khủng hoảng thì Nhà nước là người đầu tiên có trách nhiệm định hướng và chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo toàn giá trị cho quỹ BHTN.

Như vậy, có thể hiểu QLNN về BHTN là các hoạt động phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền nhằm hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát quá trình thực hiện chính sách BHTN, góp phần hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của thất nghiệp đối với NLĐ, đối với xã hội và quốc gia.

Tóm lại: QLNN về BHTN là toàn bộ các hoạt động xây dựng, phối hợp, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát chính sách BHTN của các bên tham gia, nhằm bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu của chế độ BHTN. Ngoài ra, quản lý BHTN còn bao hàm nội dung quản lý nguồn hình thành quỹ và phát triển quỹ BHTN để có năng lực thực hiện mục tiêu lâu dài, bền vững.

Nhà nước xây dựng chính sách BHTN nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng thất nghiệp đối với xã hội, xây dựng quỹ BHTN để thực hiện chính sách này. Nhà nước thực hiện quản lý sự phối kết hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm trong quá trình thực hiện chính sách.

QLNN về BHTN có nhiều bên tham gia. Theo quy định hiện hành thì Ngành lao động và ngành BHXH thực hiện giải quyết chế độ BHTN cho NLĐ mất việc làm. Việc hình thành qũy BHTN do ba bên thực hiện, đó là: Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ. Quỹ BHTN, ngoài việc cung cấp một phần thu nhập cho NLĐ trong thời gian thất nghiệp, còn được sử dụng để thực hiện dịch vụ giới thiệu việc làm cho người thất nghiệp, đào tạo lại cho NLĐ để họ tìm được việc làm mới phù hợp với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và yêu cầu của thị trường lao động. Nếu quản lý tốt thì chính sách BHTN sẽ được thực hiện tốt và đạt được mục tiêu của chính sách, nếu quản lý kém thì không thực hiện được mục tiêu đề ra. Muốn quản lý tốt cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên có liên quan trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách BHTN.

*Một số mô hình QLNN về BHTN

Ở các quốc gia khác nhau thì có các mô hình quản lý BHTN khác nhau. Hiện có một số mô hình QLNN về BHTN điển hình sau:

Một là, nhà nước giao toàn quyền quản lý cho một bộ, ngành chức năng. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, chức năng QLNN về BHTN được uỷ

quyền cho một bộ, ngành nào đó có liên quan. Chẳng hạn như ở Cu Ba, Tây Ban Nha, Mêhicô, Thổ Nhĩ Kỳ, và một số nước châu Mỹ Latinh thì trách nhiệm này thường được giao cho Bộ Lao động. Ở các nước như Đức, Irắc, Ixaren, Chilê thì Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội là cơ quan QLNN về BHXH, trong đó có BHTN. Cá biệt có một số nước lại giao trách nhiệm QLNN về BHTN cho Bộ Tài chính; Bộ Y tế; hoặc Bộ Nội chính... Trong mô hình mà chức năng QLNN về BHTN được ủy quyền cho một Bộ thực hiện thì sẽ thiết lập một Hội đồng quản lý BHTN nhằm giám sát chỉ đạo trực tiếp các hoạt động của cơ quan BHXH cũng như hoạt động đầu tư quản lý quỹ tài chính BHTN. Ngoài ra Hội đồng còn tham gia những ý kiến tư vấn cho Bộ chủ quản trong việc xây dựng và phát triển chính sách BHTN.

Thành phần của Hội đồng quản lý BHTN gồm:

- Đại diện các cơ quan Nhà nước có liên quan như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc, …

- Đại diện của NLĐ và đại diện của người sử dụng lao động. Đại diện của

NLĐ thường do Liên đoàn Lao động và đại diện của người sử dụng lao động do các tổ chức của người sử dụng lao động lựa chọn hoặc tiến cử. Các đại diện này cũng có thể do Bộ chủ quản bổ nhiệm sau khi có sự cố vấn của Liên đoàn Lao động và các tổ chức của người sử dụng lao động.

- Tổng Giám đốc (hoặc Giám đốc) của cơ quan BHXH.

Hai là, nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý.

Trong mô hình tổ chức hệ thống BHTN ở một số nước, hoạt động BHTN không tập trung thống nhất trong một hệ thống chung của cả nước. Thay vào đó, có thể có các hệ thống BHTN riêng cho từng nhóm NLĐ hoặc riêng cho từng nhóm chế độ BHXH. Với những nước có các hệ thống BHTN riêng như vậy, trách nhiệm QLNN về BHTN có thể được giao cho nhiều cơ quan khác nhau. Mỗi cơ quan QLNN này liên quan đến hoạt động BHTN của một hoặc một số hệ thống BHXH trong nước.

Ba là, thành lập ủy ban quản lý BHXH, trong đó có BHTN

Nhiều nước lập ra một Uỷ ban riêng trực thuộc Chính phủ gọi là Uỷ ban BHXH hoặc Uỷ ban ASXH trong đó có BHTN. Đặc điểm của mô hình này tạo được sự thống nhất, tập trung trong quản lý BHTN. Nó cho phép quản lý BHTN một cách sâu sắc hơn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên mô hình này lại phải đối mặt với sự phức tạp, mở rộng bộ máy QLNN nói chung…

*Mục tiêu QLNN đối về BHTN

Nhà nước quản lý BHTN để thực hiện các mục tiêu do Nhà nước đề ra trong quá trình xử lý các phát sinh trong xã hội. Mục tiêu quan trọng nhất của Nhà nước khi thực hiện quản lý chính sách này là tạo một quỹ độc lập ngoài ngân sách nhà nước để giải quyết tình trạng thất nghiệp. Nhà nước sử dụng quỹ BHTN để chi trả các chế độ BHTN, thông qua đó góp phần ổn định xã hội, chính trị, tăng sự ủng hộ của dân chúng đối với nhà nước, thúc đẩy NLĐ tìm việc làm hiệu quả. Nhà nước còn sử dụng quỹ BHTN trong việc khắc phục những vấn đề phát sinh trong khi cơ cấu lại doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp bù đắp thu nhập cho NLĐ do mất việc làm. Có thể khái quát hệ mục tiêu QLNN về BHTN như sau:

- Đối với cơ quan BHXH:

Mục tiêu của cơ quan BHXH về quản lý BHTN là đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu của Nhà nước đề ra, đảm bảo chính sách BHTN được thực hiện đúng, phát huy tác động tích cực của chính sách trong đời sống xã hội. Cơ quan BHXH có trách nhiệm triển khai chính sách BHTN đi vào thực tế, đảm bảo chi trả TCTN đúng người, đúng đối tượng, kịp thời, tạo điều kiện thực hiện quyền lợi của NLĐ khi họ thất nghiệp. Cơ quan BHXH phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển các quỹ BHTN thông qua việc thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia đóng góp đầy đủ vào quỹ và thay mặt Nhà nước quản lý quỹ BHTN, thực hiện các biện pháp làm gia tăng quỹ theo đúng quy định, đảm bảo sử dụng quỹ đúng theo quy định của pháp luật.

- Mục tiêu xã hội trong quản lý BHTN:

Mục tiêu quan trọng nhất của QLNN về BHTN là góp phần ổn định xã hội trong giai đoạn nền kinh tế gặp khó khăn, số việc làm không đáp ứng được với số lao động trong độ tuổi lao động. Chính sách BHTN thể hiện tính nhân đạo rất cao trong việc chia sẻ rủi ro, lấy số đông bù số ít. Thông qua việc chuyển rủi ro mất thu nhập từ cá nhân sang cho cộng đồng gánh vác, BHTN đóng vai trò quan trọng trong nâng cao phúc lợi cộng đồng, tăng cường mối liên kết xã hội giữa các thành viên.

*Đặc điểm QLNN về BHTN

QLNN đối với BHTN có những đặc điểm cơ bản sau:

- Tính liên ngành

Chính sách BHTN thực hiện nhiều mục tiêu, các mục tiêu này do nhiều ngành quản lý và thực hiện. Theo quy định hiện hành thì xây dựng chế độ BHTN, quản lý BHTN do ngành lao động, thương binh và xã hội thực hiện. Quản lý về thu, chi, tăng trưởng quỹ do ngành BHXH thực hiện. Trực tiếp thực hiện chi trả TCTN bằng tiền mặt, qua tài khoản cá nhân do các đại lý tại xã, phường, ngân hàng thực hiện.

Thực hiện việc quản lý người thất nghiệp, kết nối người thất nghiệp với các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động do TTGTVL thực hiện. Ngoài ra các cơ sở đào tạo nghề thực hiện mục đích đào tạo lại lực lượng lao động thất nghiệp khi họ có nhu cầu. Do vậy QLNN về BHTN mang tính liên ngành, nhiều ngành, nhiều cấp cùng thực hiện. Để chính sách BHTN mang lại hiệu quả cao cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách BHTN.

- Tính phức tạp

QLNN về BHTN có tính phức tạp, vì ngay bản thân vấn đề thất nghiệp đã có sự phức tạp. Sự phân định rõ ràng người thực sự thất nghiệp và người thất nghiệp trên danh nghĩa để tránh lạm dụng chính sách không phải là dễ dàng. Thực tế cho thấy, lao động làm việc trong các ngành kinh tế khác nhau, có nhiều cơ sở không ký hợp đồng lao động với NLĐ hoặc chỉ thuê lao động làm việc bán thời gian, vì vậy đã có nhiều NLĐ tìm được việc làm, có thu nhập nhưng vẫn thuộc lực lượng thất nghiệp.

Đối tượng hưởng chế độ BHTN rất khó có thể tính toán chính xác được, vì thất nghiệp do rất nhiều nhân tố tác động và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy quản lý đối tượng hưởng chế độ BHTN là rất khó khăn. Ngoài ra là do sự thiếu hợp lý, bất cập của các quy định pháp luật làm cho việc QLNN về BHTN khó khăn hơn.

- Liên quan chặt chẽ đến giải quyết việc làm

BHTN và việc làm có mối quan hệ chặt chẽ, cái này là tiền đề để thực hiện cái khác và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Giữa BHTN và việc làm đều có mục tiêu chung là hướng về NLĐ, tạo lập ASXH thông qua bảo đảm việc làm, thu nhập cho NLĐ. BHTN với chức năng là bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ, đào tạo lại, giới thiệu việc làm. Có việc làm thì mới thực hiện được việc đóng BHTN và khi mất việc làm thì được hưởng TCTN, được giới thiệu việc làm mới phù hợp. Giải quyết tốt việc làm cho NLĐ chính là giảm tỷ lệ thất nghiệp.

- Tính đa mục tiêu

QLNN về BHTN hướng đến việc thực hiện nhiều mục tiêu khác nhau. QLNN về BHTN nhằm thực hiện tốt hệ mục tiêu đó. Quản lý thu, chi hướng đến thực hiện mục tiêu thành lập một quỹ BHTN độc lập, đảm bảo an toàn và phát triển quỹ ngoài ngân sách nhà nước có thể giúp nhà nước có nguồn tài chính giải quyết các vấn đề thất nghiệp. Quản lý chi hướng đến mục tiêu ổn định, đảm bảo một phần thu nhập cho NLĐ trong thời gian họ thất nghiệp. Thông qua đào tạo lại, QLNN về BHTN hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp theo hướng bền vững.

- Tính xã hội

Nhà nước thực hiện chính sách BHTN để thực hiện mục tiêu cơ bản là góp phần ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội. Thất nghiệp gây ra rất nhiều hệ lụy cho xã hội như bất ổn xã hội, bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo… Các vẫn đề xã hội nếu không được giải quyết tốt sẽ gây nên những hậu quả lớn. Giải quyết các vấn đề xã hội là giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích của con người và vì con người. BHTN có mục tiêu xã hội rất rõ ràng. Do vậy, có thể nói QLNN về BHTN nó mang tính xã hội rất sâu sắc.

3 Sự cần thiết phải tăng cường QLNN về BHTN

Trên thế giới hiện nay không quốc gia nào là không bận tâm đến vấn đề phát triển, một trong những hệ quả của phát triển là nạn thất nghiệp, để đảm bảo xã hội phát triển toàn diện và bền vững đòi hỏi phải có những biện pháp nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, BHTN là một trong những biện pháp nhằm giải quyết tình trạng đó. Sự cần thiết phải tăng cường QLNN về BHTN xuất phát từ các lý do sau:

Một là, xuất phát từ tác hại của thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế – xã hội, là vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia. Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp các nước đã có nhiều biện pháp và chính sách cụ thể. Tuy nhiên lý luận và thực tiễn cho thấy, BHTN vẫn luôn được coi là chính sách hữu hiệu nhất trong giải quyết vấn đề thất nghiệp. Việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.

Hai là, xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT định hướng XHCN

Đường lối phát triển nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước là một chủ trương xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Trong những năm qua, nền KTTT ở nước ta đang được hình thành một cách rõ nét và đồng bộ hơn. Sự phát triển của các thành phần kinh tế, các loại thị trường trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cùng với sự phát triển các thành phần kinh tế, các loại thị trường thì Nhà nước đóng vai trò không thể thiếu nhằm giúp thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp của nền KTTT đã đặt ra nhiều thách thức như sự lựa chọn đào thải lao động của thị trường dẫn đến mất việc làm và thất nghiệp của NLĐ, sự biến động phức tạp của thị trường và sản xuất kinh doanh dẫn đến nhiều NLĐ bị thất nghiệp. Để bảo vệ lợi ích của NLĐ đòi hỏi Nhà nước cần tăng cường vai trò của mình hơn nữa trong việc hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm - đó chính là thông qua chính sách BHTN. Tăng cường QLNN phải làm sao vừa quản lý, vừa kiểm soát được các hoạt động BHTN nhưng không làm hạn chế sự phát triển của kinh tế và xã hội. Trong đó vấn đề quản lý BHTN phải được tiến hành gắn liến với sự phát triển kinh tế, hài ḥòa với công bằng xã hội. Đây là những vấn đề hệ trọng và bức xúc nhất hiện nay trong việc QLNN đối với BHTN nói riêng và hoạt động kinh tế - xã hội nói chung. Tức là vấn đề tăng cường BHTN về BHTN không chỉ nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà còn nhằm vào mục tiêu đảm bảo công bằng xã hội, trên cơ sở đó tạo nền tảng để phát triển bền vững. Vì vậy, tăng cường QLNN về BHTN là một yêu cầu cấp bách, tất yếu khách quan đặt ra từ chính đòi hỏi của nền KTTT. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam phát triển nền KTTT, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH thì vấn đề BHTN và QLNN về BHTN phải đặc biệt coi trọng.

Ba là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN do dân, vì dân.

Để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN do dân, vì dân đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, tăng cường QLNN đối với BHTN là một mục tiêu nhằm hiện thực yêu cầu xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Việc tăng cường QLNN đối với BHTN với mục đích tạo ra một cơ chế, chính sách đáp ứng nguyện vọng của NLĐ, đòi hỏi của xã hội, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động và quan hệ BHTN.

Tăng cường QLNN đối với BHTN là nhằm xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và NLĐ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc đóng quỹ BHTN và trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động ASXH, trong đó có BHTN. Thông qua các quy định về BHTN làm phương tiện, công cụ để nhà nước quản lý, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát mọi quan hệ lao động, quan hệ BHTN.

Bốn là, xuất phát từ yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế tác động mạnh mẽ tới toàn bộ hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam. Do vậy nhiều lĩnh vực, nhiều tổ chức, nhiều NLĐ bị lôi cuốn tham gia vào quá trình này. Tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, các loại thị trường của Việt Nam bị ảnh hưởng của toàn cầu hóa. Các loại thị trường trong nước sẽ có sự gắn kết hơn với thị trường quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực thì không ít những tác động tiêu cực dẫn đến những hệ lụy như mất việc làm và thất nghiệp tăng cao. Để hạn chế sự mất việc làm, thất nghiệp của NLĐ, và tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, nhất thiết Nhà nước phải có những giải pháp hỗ trợ NLĐ, trong đó có chính sách BHTN. Và để nâng cao hiệu quả của chính sách BHTN thì nhà nước phải tăng cường quản lý công tác này.

4.Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN

4.1 Hoạch định chiến lược, chính sách BHTN

Hoạch định chiến lược, chính sách, chế độ BHTN là khâu đầu tiên và quan trọng nhất của công tác QLNN về BHTN. Nó là một trong những chức năng cơ bản trong QLNN về kinh tế nói chung và về BHTN nói riêng. Ở Việt Nam việc xây dựng chiến lược, chính sách thường theo quy trình sau: Đảng đề ra chủ trương, đường lối, Nhà nước cụ thể hóa chủ trương, đường lối thành chiến lược và hệ thống chính sách, luật pháp của Nhà nước, Chính phủ đưa ra những quy định và khâu cuối cùng là các bộ, ngành, địa phương tổ chức hướng dẫn thực hiện.

Nhìn chung, hệ thống chính sách và chế độ BHTN thời gian qua được Nhà nước xây dựng theo hướng đầy đủ, thống nhất trong phạm vi cả nước. Chính sách BHTN đưa ra đều liên quan và hoà hợp với các chính sách về quản lý, sử dụng lao động; về thu nhập, thuế và ASXH. Cụ thể, khi hoạch định chính sách và định hướng cho sự phát triển của hệ thống BHTN, Nhà nước sẽ phải xác định được hình thức thực hiện BHTN tự nguyện hay bắt buộc; phạm vi đối tượng tham gia BHTN; các loại chế độ BHTN thực hiện phù hợp với các đối tượng tham gia khác nhau; nguồn thu và việc sử dụng quỹ BHTN; mức trợ cấp và điều kiện hưởng TCTN.

Chính sách BHTN được xây dựng trong khuôn khổ các kế hoạch kinh tế -xã hội tổng thể, theo những mối quan tâm ưu tiên khác nhau; phù hợp với trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội từng thời kỳ. BHTN là một phạm trù lịch sử, luôn vận động và phát triển không ngừng. Vì thế cho đến ngày nay, trên thế giới chưa có một mô hình chuẩn về chính sách BHTN. Trong các Công ước của ILO cũng chỉ đưa ra những tiêu chuẩn khung, chính sách khung và khuyến nghị các nước thành viên, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia mình mà áp dụng cho phù hợp. Ngay trong một quốc gia, trong mỗi giai đoạn phát triển, BHTN lại có mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau,… Vì vậy, Nhà nước phải thực hiện việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ BHTN sao cho chính sách BHTN ngày càng phát triển, thiết thực hơn đối với nhiều NLĐ trong xã hội.

Hoạch định chính sách là khâu đặc biệt quan trọng trong công tác QLNN đối với BHTN. Đây là khâu thể chế hóa mục tiêu quản lý BHTN bằng việc xác định chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết BHTN. Trong hoạch định chính sách BHTN có hoạch định chính sách chung, hoạch định chính sách thu, chi, quản lý quỹ BHXH và hoạch định các chính sách khác:

- Hoạch định chính sách BHTN chung

Đây là trách nhiệm của chính quyền Trung ương, chính sách chung phải xác định rõ đối tượng thụ hưởng, mức đóng góp, chủ thể đóng góp và cơ chế thực hiện chi trả TCTN… Thông thường ở các nước phát triển chính sách bảo hiểm chung là chính sách xã hội do Quốc hội và Chính phủ ban hành nhằm tạo cơ chế hỗ trợ cho người thất nghiệp, đảm bảo an toàn trật tự xã hội khi tình hình kinh tế có nhiều biến động tiêu cực dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng. Chính sách BHTN chung đảm bảo cho NLĐ cả nước có mức sống trung bình trong thời gian bị mất việc làm và thông qua đó duy trì ổn định chính trị xã hội.

Chính sách BHTN chung có mục đích quan trọng là giúp NLĐ bị thất nghiệp có khả năng quay lại thị trường lao động thông qua hoạt động kết nối cung - cầu lao động, tư vấn giới thiệu việc làm và tạo điều kiện sử dụng hết nguồn nhân lực cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội.

- Hoạch định chính sách thu BHTN

Hoạch định chính sách thu BHTN là xác định mức đóng góp của các bên tham gia phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, không được chất nặng lên ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ. Tỷ lệ đóng góp phải được tính toán phù hợp, hài hòa bảo đảm không ảnh hưởng đến cuộc sống NLĐ, cũng không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời không ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước. Mức đóng góp của các bên tham gia cũng phải đảm bảo cho việc chi trả các chế độ BHTN một cách độc lập trong khuôn khổ quỹ BHTN.

- Hoạch định chính sách chi BHTN

Chính sách chi BHTN có nhiều điểm khác biệt so với các chế độ BHXH khác. Nếu quy định mức chi quá thấp, thời gian được hưởng ngắn sẽ làm mất ý

nghĩa ASXH của chế độ BHTN. Nếu quy định mức hưởng TCTN quá cao, thời gian hưởng dài sẽ dẫn đến khó cân đối tài chính giữa thu và chi BHTN và gây tâm lý ỷ nại, trông chờ vào sự trợ giúp của quỹ BHTN. Do vậy việc hoạch định, tính toán, cân đối trong chính sách chi là rất quan trọng, nó vừa phải bảo đảm an toàn quỹ BHTN, vừa đảm bảo mục đích ASXH của chính sách, vừa đảm bảo cân đối tài chính của ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp và của NLĐ.

- Chính sách quản lý quỹ BHTN:

Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia, đó là: Người sử dụng lao động, NLĐ và nhà nước nên hoạt động của quỹ phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, công khai, minh bạch và hoạch toán độc lập.

Hoạt động của quỹ BHTN có sự kiểm tra, giám sát của đại diện các bên tham gia. Quỹ BHTN được quyết toán hàng năm và thông báo định kỳ về tình hình thực hiện BHTN đối với NLĐ, người sử dụng lao động và cơ quan quản lý cấp trên. Quản lý quỹ phải đảm bảo an toàn của quỹ, đầu tư tăng trưởng của quỹ theo đúng quy định của Nhà nước.

Để đảm bảo cho quyền lợi của các đối tượng thụ hưởng BHTN và đồng thời lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, Nhà nước sẽ là người xây dựng cơ chế tài chính cho hoạt động của hệ thống BHTN, cụ thể: Xác định hình thức cân đối thu chi của quỹ tài chính BHTN; xác định cách thức tổ chức và quản lý quỹ tài chính BHTN; xác định trách nhiệm đóng góp và mức hưởng BHTN; định hướng đầu tư để bảo tồn và tăng trưởng quỹ.

- Bảo hộ và bảo trợ cho hoạt động BHTN

Dù hoạt động với mô hình khác nhau như thế nào thì BHTN của tất cả các nước trên thế giới đều nhằm bảo đảm ASXH. Vì vậy, Nhà nước luôn thực hiện bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHTN, tránh không bị ảnh hưởng trước những biến động về kinh tế - xã hội; đặc biệt là những biến động về tài chính. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những nước có nền kinh tế chưa phát triển, lạm phát còn cao. Tuy nhiên, sự bảo hộ và bảo trợ của Nhà nước về nguyên tắc hoàn toàn không phải là sự bao cấp, bù đắp thất thoát mà là tạo điều kiện để chính sách BHTN thực sự có hiệu quả. Thể hiện ở một số điểm: (1) Bảo đảm giá

trị của quỹ tài chính BHTN trong các tài khoản tại ngân hàng để bảo đảm mức chi trả TCTN cho các đối tượng hưởng BHTN trước những biến động chính trị - kinh tế - xã hội; (2) Bảo hộ cho quỹ tài chính BHTN trong các hoạt động đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Nhà nước ưu tiên cho quỹ tài chính BHTN được đầu tư phần nhàn rỗi vào những lĩnh vực an toàn, rủi ro thấp nhất và thuận lợi khi thu hồi vốn để kịp thời chi trả các khoản chi BHTN khi có nhu cầu lớn; không đánh thuế hoặc đánh thuế thấp đối với các dự án đầu tư của quỹ tài chính BHTN; hỗ trợ về tài chính cho quỹ tài chính BHTN trong những trường hợp quỹ bị thâm hụt vì những lý do bất khả kháng,…

- Chính sách xử lý vi phạm trong lĩnh vực BHTN:

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHTN là hành vi do cá nhân, cơ quan, tổ chức cố ý hoặc vô ý vi phạm pháp luật về BHTN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Các hình thức xử phạt hành chính gồm: Cảnh cáo, phạt tiền. Biện pháp khắc phục hậu quả: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định…

4.1. Xây dựng hệ thống pháp luật về BHTN

Hệ thống pháp luật BHTN là cơ sở pháp lý cho hoạt động BHTN của một nước bao gồm: Luật, các văn bản dưới luật về BHTN. Luật là những văn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao nhất và là công cụ quản lý vững chắc nhất mà mọi tổ chức, cá nhân phải tuân thủ. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật về BHTN và ban hành việc thực hiện chúng trong phạm vi cả nước.

Việc xây dựng hệ thống pháp luật về BHTN có khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi nước. Các qui định luật về BHTN có thể được đặt trong một luật chung như Luật Lao động, Luật Công chức, viên chức, Luật Dân sự, hay Luật Bảo hiểm, Luật Việc làm… Có nhiều nước ban hành riêng luật về BHXH để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến hoạt động BHXH, trong đó có BHTN. Luật BHXH do Quốc hội thông qua và có phạm vi áp dụng trong cả nước. Ngoài luật về BHXH, Nhà nước còn ban hành các văn bản dưới luật về BHXH nhằm giải thích rõ, hướng dẫn cụ thể việc thi hành về một số nội dung, vấn đề có liên quan đến lĩnh vực BHXH, trong đó có BHTN. Ở nước ta, vấn đề BHTN trước kia thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật BHXH, nhưng từ 01/01/2015 thì thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Việc làm.

4.2 Tổ chức thực hiện chính sách BHTN

Trong nội dung này Nhà nước thực hiện các vấn đề sau:

Một là, quản lý thu BHTN

Quản lý thu BHTN bao gồm: Quản lý mức đóng, quản lý các khoản thu hợp pháp khác, quản lý người tham gia.

Quản lý mức đóng: BHXH căn cứ vào quy định của nhà nước về mức tiền lương, tiền công, hồ sơ của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHTN đối với người tham gia và đơn vị.

Quản lý các khoản thu hợp pháp khác: Đó là các khoản như tiền lãi thu được trong hoạt động dầu tư tăng trưởng quỹ đem lại, thu từ trong và ngoài nước, quản lý các khoản thu khác.

Quản lý người tham gia: Tức là NLĐ, chủ sử dụng lao động và phần đóng góp của Nhà nước. Công tác quản lý NLĐ có vai trò quan trọng trong QLNN đối với BHTN. Nó liên quan đến nhiều vấn đề như đăng ký người thất nghiệp, thống kê số người thất nghiệp, phân loại thất nghiệp… Trong các khâu này đòi hỏi phải có sự chính xác, đầy đủ, kịp thời, nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả QLNN đối với BHTN.

Quản lý thu từ NLĐ: Với nhóm này cơ quan BHXH thống kê, quản lý, theo dõi số đơn vị sử dụng lao động và số lao động cũng như quỹ tiền lương của từng đơn vị sử dụng lao động thường diễn ra. Do đó cơ quan BHXH cần có những biện pháp theo dõi để quản lý chặt chẽ quá trình tham gia của từng lao động trong từng đơn vị sử dụng lao động gắn liền với số lao động và quỹ tiền lương tham gia BHTN của đơn vị đó. Ngoài ra cần xác định rõ đơn vị đó có thuộc đơn vị bẳt buộc tham gia BHTN hay không để đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi của đơn vị sử dụng lao động cũng như NLĐ.

Quản lý thu từ cá nhân: Hiện nay nước ta chưa có chế độ đóng góp BHTN tự nguyện, NLĐ tự do, lao động trong các đơn vị sử dụng lao động dưới 10 lao động không tự mình đóng cho mình được mà phụ thuộc vào đơn vị sử dụng lao động. Nếu doanh nghiệp hoạt động khó khăn, kinh doanh không có lãi dẫn đến không có lương hoặc trốn đóng BHXH, BHTN thì bản thân NLĐ cũng không thể tự đóng cho mình được mặc dù NLĐ và đơn vị sử dụng lao động đều thuộc đối tượng tham gia BHTN bắt buộc. Do vậy, quản lý thu của từng NLĐ vẫn phải thực hiện thông qua đơn vị sử dụng lao động.

Quản lý thu từ ngân sách: Hàng năm căn cứ vào số thu BHTN năm trước của cơ quan BHXH đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, NSNN sẽ trích một phần hỗ trợ của mình. Việc trích hàng năm từ NSNN sang quỹ BHTN giúp cho Nhà nước xác định được mức chi hàng năm để thực hiện tốt việc cân đối thu chi cho NSNN.

Hai là, quản lý chi BHTN

Nội dung tiếp theo trong QLNN về BHTN đó là: Quản lý chi BHTN. Quản lý chi phải đảm bảo thực hiện chi đúng người, đúng chế độ và đúng thời gian. Quản lý chi BHTN bao gồm các nội dung sau đây:

- Xây dựng quy trình, thủ tục chi BHTN

Đối với cơ quan BHXH, công tác tổ chức và quản lý chi BHTN cũng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Chi trợ cấp BHTN phải thực hiện theo đúng chế độ BHTN đã được nhà nước quy định. Quy trình chi BHTN gồm các bước sau: Trước tiên các TTGTVL kiểm tra đối chiếu hồ sơ theo các điều kiện đã được quy định, dự thảo quyết định trình Sở LĐ - TB &XH ra quyết định và chuyển quyết định hưởng TCTN của NLĐ bị mất việc làm sang BHXH; BHXH tỉnh, thành phố, BHXH huyện là cơ quan tổ chức chi trả các chế độ BHTN cho NLĐ tham gia BHTN. Theo đề nghị của người thất nghiệp về nơi lĩnh TCTN thì BHXH tỉnh, thành phố, BHXH huyện thực hiện chi trả trực tiếp hoặc hợp đồng với đại điện chi trả xã để chi trả TCTN cho người hưởng.

Do công tác quản lý chi phải được thực hiện qua nhiều cơ quan, nhiều cấp nên cần xây dựng quy trình chuẩn trong việc thực hiện chi TCTN, thu hồi TCTN, có văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm phân rõ trách nhiệm, thời gian thực hiện giữa các cơ quan để đảm bảo chi đúng, đủ, kịp thời cho người hưởng và thu hồi được TCTN do người thất nghiệp lạm dụng hoặc vi phạm các quy định hưởng.

BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, BHXH huyện và đại diện chi trả xã phải chi đầy đủ TCTN cho người hưởng, đảm bảo an toàn tiền mặt; chấp hành đúng chế độ kế toán, báo cáo thống kê; thực hiện thanh quyết toán và quản lý lưu giữ chứng từ theo đúng quy định; cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ chi BHTN khi có yêu cầu kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin đăng ký thất nghiệp

Xây dựng hệ thống thông tin đăng ký thất nghiệp đầy đủ để quản lý người hưởng TCTN là một trong những nội dung QLNN đối với BHTN. Hệ thống thông tin phải được kết nối với các cơ sở thông tin khác như thông tin về đóng BHXH; BHTN, thông tin về hưởng các chế độ BHXH hàng tháng khác, nhằm đảm bảo việc hưởng TCTN và các trợ cấp BHXH hàng tháng khác không bị trùng lặp.

Xây dựng được hệ thống thông tin về đăng ký thất nghiệp sẽ góp phần quản lý tốt lao động bị thất nghiệp. Cần có hệ thống cơ sở dữ liệu về đăng ký thất nghiệp trên địa bàn và kết nối với với cơ sở dữ liệu chung cả nước. Khi chưa có hệ thống thông tin về đăng ký thất nghiệp chung trong cả nước mà theo quy định mới, nơi nhận TCTN có thể đăng ký ở bất cứ nơi nào người hưởng có nhu cầu, thì rất khó khăn cho quản lý chi BHTN.

- Kiểm tra, giám sát quá trình chi

BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chi và quản lý người hưởng BHTN của cơ quan BHXH huyện, đại diện chi trả xã, ngân hàng theo quy định.

Khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về hành vi gian trá, làm giả hồ sơ, tài liệu, hoặc không thực hiện việc khai báo định kỳ... BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ kết luận từ chối việc chi TCTN cho người thất nghiệp hoặc thu hồi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

- Xử lý vi phạm về BHTN

Các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH được quy định tại Nghị định 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ có hiệu lực từ 01/10/2010. Các trường hợp vi phạm pháp luật về đóng BHTN theo Điều 134 của Luật BHXH đều phải tính tiền lãi chậm đóng theo quy định. Tiền lãi chậm đóng nếu thấp hơn lãi vay ngân hàng thì sẽ khuyến khích doanh nghiệp giữ tiền của NLĐ đã đóng tại đơn vị để sử dụng. Tuy nhiên, trong trường hợp này cơ quan BHXH gặp nhiều khó khăn khi đốc thúc thu BHTN và xử lý vi phạm.

Nói chung, đi đôi với quy định về hình thức và mức phạt vi phạm, luật pháp cần bổ sung các chế tài xử phạt mạnh, mang tính răn đe nhiều hơn để các đơn vị sử dụng lao động không muốn chậm đóng BHTN, qua đó tạo điều kiện cho BHXH thực hiện tốt công tác thu BHTN.

Các vi phạm trong chi BHTN như chi không đúng thời gian, chi không đủ mức hưởng hoặc không lập chứng từ để thực hiện chế độ cho NLĐ cũng bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.

Đối với các doanh nghiệp sắp phá sản, nợ lương NLĐ hiện nước ta chưa có chế tài xử phạt. Vì thế, NLĐ ở các doanh nghiệp sắp phá sản gặp khó khăn bội phần, phần vì không có việc làm, không có lương, và phần khác không thể hưởng BHTN. Chỉ khi nào đơn vị tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản mới ưu tiên trả trước những khoản nợ về đóng BHXH, BHTN. Ở nước ta, theo quy định của luật, nếu thời gian ngừng đóng BHTN kéo dài và NLĐ đã mất việc làm quá 6 tháng khi đến thời điểm doanh nghiệp phá sản thì chế độ BHTN cho những NLĐ ở doanh nghiệp phá sản cũng không được thực hiện nên NLĐ càng thiệt đơn thiệt kép.

BHXH phải theo dõi để kiến nghị xử phạt thích đáng đối với NLĐ lạm dụng chính sách BHTN và đối với các doanh nghiệp và NLĐ bắt tay nhau gian lận trong việc hưởng TCTN. Một nội dung nữa là cần kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện trường hợp NLĐ kê khai không đúng sự thật để hưởng TCTN. . .

4.3. Kiểm tra, giám sát hoạt động BHTN

Nội dung tiếp theo trong QLNN đối với BHTN là công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động BHTN. Công tác này thực hiện kiểm tra, rà soát lại toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện chính sách BHTN, rút ra các kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại, từ đó có định hướng khắc phục trong giai đoạn tới. Theo đó, công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động BHTN sẽ đánh giá đầy đủ các ưu, nhược điểm trong các nội dung sau:

- Kiểm tra việc thực thi chế độ, chính sách BHTN.

- Kiểm tra điều kiện được hưởng BHTN.

- Thủ tục và hồ sơ tham gia BHTN.

- Thu BHTN.

- Chi BHTN.

- Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết kiếu nại về BHTN.

- Việc thực hiện nghĩa vụ tham gia BHTN của các bên có liên quan;

- Chế độ BHTN của cơ quan BHXH đối với NLĐ;

- Các hoạt động tài chính của cơ quan BHXH;

- Giải quyết các khiếu nại, tranh chấp BHTN. Đây là một trong những hoạt động có tính thường xuyên của QLNN về BHTN.

Để có được những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý này, cơ quan QLNN về BHTN có thể ban hành quy định chế độ báo cáo và chế độ thống kê. Các chế độ báo cáo này được quy định đối với các doanh nghiệp, cơ quan QLNN đối với BHTN cấp dưới, các cơ quan liên quan đến lĩnh vực BHTN… Tùy theo từng cơ quan mà quy định những nội dung báo cáo khác nhau. Chế độ báo cáo được quy định như: Báo cáo nhanh, báo cáo tháng, báo cáo quý, báo cáo 6 tháng, báo cáo năm, báo cáo thanh tra, kiểm tra,…

4.4. Xây dựng tổ chức hệ thống BHTN

Tổ chức hệ thống BHTN được Nhà nước xác định trên cơ sở phù hợp với từng giai đoạn phát triển và trình độ quản lý của bộ máy Nhà nước nói chung và bộ máy BHTN nói riêng. Tổ chức hệ thống BHTN có thể được hình thành theo 2 cấp quản lý hoặc 3 cấp quản lý từ Trung ương đến các địa phương. Do điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị khác nhau nên cơ cấu tổ chức các cơ quan quyền lực của các nước nhìn chung cũng khác nhau. Vì vậy, quy định về cơ quan QLNN đối với BHTN ở mỗi nước có những điểm khác nhau.

Mô hình triển khai thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam bao gồm những nội dung sau:

- Hệ thống tổ chức thu đóng góp và chi trả chế độ BHTN;

- Hệ thống quản lý NLĐ thất nghiệp;

- Hệ thống tổ chức đăng ký nhu cầu lao động cho doanh nghiệp và giới thiệu việc làm cho NLĐ;

- Tổ chức đào tạo lại nghề cho NLĐ thất nghiệp.

Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHTN được phân thành 3 cấp: Cấp Trung ương; Cấp BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Cấp BHXH quận, huyện:

- Về quy trình chung về thực hiện chính sách BHTN tại BHXH các cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp huyện, quận

Để quản lý từng đơn vị sử dụng lao động và từng NLĐ trong đơn vị tham gia BHTN, tránh chồng chéo giữa BHXH tỉnh và BHXH huyện, việc phân cấp quản lý thu BHTN đươc thực hiện như phân cấp thu BHXH bắt buộc: Người sử dụng lao động tham gia BHXH, BHTN, BHYT đóng trụ sở chính ở địa bàn nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH, BHTN, BHYT tại địa bàn đó theo phân cấp của cơ quan BHXH. Trường hợp đơn vị không đủ tư cách pháp nhân, không có tài khoản, con dấu riêng thì đóng theo đơn vị quản lý cấp trên. Hàng năm, BHXH tỉnh và huyện tổng hợp về tình hình lao động, tiền lương, tiền công và kinh phí được NSNN hỗ trợ về BHTN chuyển về cơ quan tài chính cấp huyện, tỉnh để được cấp kinh phí.

BHXH tỉnh, BHXH huyện thực hiện: Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHTN; tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ thất nghiệp để họ nhanh chóng tìm được việc làm mới; thực hiện việc trả TCTN theo đúng chế độ, kịp thời, thuận tiện. Bên cạnh đó, các đơn vị thuộc BHXH kể trên phải lập kế hoạch tài chính cho chính sách BHTN trên cơ sở dự báo biến động về lao động thất nghiệp hàng năm, cũng như dự toán nguồn kinh phí để hỗ trợ cho công tác giới thiệu việc làm, hỗ trợ công tác đào tạo nghề.

Người lao động tham gia BHTN đăng ký thất nghiệp với cơ quan BHXH, nơi NLĐ được người sử dụng lao động trước đó đóng BHXH, BHYT và BHTN đồng thời chịu sự quản lý của cơ quan BHXH trong thời gian thất nghiệp.

BHXH tỉnh, BHXH huyện: Tư vấn và gửi đi đào tạo nghề cho NLĐ thất nghiệp; hỗ trợ học nghề cho đối tượng hưởng chế độ BHTN được thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với các cơ sở đào tạo dạy nghề. Việc học nghề gì, thời gian học kéo dài bao lâu, trình độ học nghề đạt được như thế nào… cần có sự thỏa thuận giữa cơ quan BHXH với NLĐ thất nghiệp trên cơ sở căn cứ vào thực trạng cung – cầu trên thị trường lao động của địa phương, của vùng nhằm tạo khả năng sớm tìm được việc làm mới, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ BHTN.

- Về quy trình tổ chức đăng ký lao động thất nghiệp, quản lý lao động thất nghiệp và tiếp nhận đăng ký nhu cầu lao động từ các doanh nghiệp

Theo quy định, NLĐ tham gia BHTN sẽ đăng ký thất nghiệp với cơ quan BHXH khi bị mất việc làm, khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Trong thời hạn 7 ngày (không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần) kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, NLĐ phải đến cơ quan BHXH nơi nộp hồ sơ tham gia BHTN để đăng ký thất nghiệp. Hàng tháng, thông báo với cơ quan BHXH về tình trạng tìm việc làm trong thời gian đang hưởng TCTN.

Cơ quan BHXH hướng dẫn thủ tục đăng ký thất nghiệp đối với NLĐ. Hoàn tất thủ tục đăng ký thất nghiệp: Lập hồ sơ, cập nhật, lưu trữ thông tin. ứng dụng công nghê thông tin vào quản lý lao động thất nghiệp nhằm tránh sai sót, trùng lặp cũng như theo dõi được toàn bộ quá trình của từng NLĐ thất nghiệp.

Cơ quan BHXH có nhiệm vụ quản lý lao động thất nghiệp và theo dõi quá trình của NLĐ kể từ khi thất nghiệp, nhận TCTN… cho đến khi tìm được việc làm mới.

Cơ quan BHXH phối hợp thường xuyên với các đơn vị doanh nghiệp đóng trên địa bàn mình quản lý, để tiếp nhận thông tin về nhu cầu về lao động của họ, làm cơ sở nguồn việc làm giới thiệu trực tiếp cho NLĐ thất nghiệp đóng trên cùng địa bàn hoặc chuyển tiếp nhu cầu lao động tới các đơn vị BHXH khác cùng giới thiệu

- Về quy trình về tổ chức giới thiệu việc làm, đào tạo nghề cho NLĐ thất nghiệp Phòng Thu thuộc BHXH tỉnh và BHXH huyện một mặt liên kết với các

doanh nghiệp đóng trên địa bàn quản lý để thu nhận thường xuyên nhu cầu lao động của họ (về số lượng lao động, loại hình ngành nghề và trình độ ngành nghề yêu cầu, giới tính…) và mặt khác liên kết với các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dạy nghề nhằm có thể tư vấn, giới thiệu kịp thời việc làm hoặc nghề nghiệp cần đào tạo cho NLĐ thất nghiệp.

NLĐ tham gia BHTN, khi bị thất nghiệp có thể chủ động tìm việc làm (nếu đủ khả năng) hoặc đến cơ quan BHXH yêu cầu giới thiệu việc làm, đào tạo nghề cho mình để sớm có việc làm mới. NLĐ cần hoàn chỉnh các thủ tục cần thiết theo yêu cầu của cơ quan BHXH để nhận TCTN hoặc phục vụ cho đào tạo nghề, giới thiệu việc làm. NLĐ phải có ý thức sẵn sàng làm việc hoặc tham gia khóa học nghề phù hợp khi được cơ quan BHXH giới thiệu.

Cơ quan BHXH tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLĐ đang hưởng TCTN. NLĐ cũng được tư vấn học nghề phù hợp với khả năng nguyện vọng của NLĐ đang thất nghiệp. Cơ quan BHXH sẽ bố trí cho NLĐ đang hưởng TCTN hàng tháng được tham gia một khoá học nghề phù hợp tại các cơ sở dạy nghề, nơi mà cơ quan BHXH đã ký hợp đồng đào tạo nghề. Cơ quan BHXH trả kinh phí đào tạo nghề cho các cơ sở đào tạo nghề theo hợp đồng ký kết với mức kinh phi theo quy định của nhà nước về đào tạo nghề và khả năng chi trả của quỹ BHTN.

4.5. Tổ chức công tác tuyên truyền

Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, luật pháp và các văn bản quy phạm pháp luật về các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức, kỷ cương tới NLĐ và người sử dụng lao động về các chế độ BHTN làm cho công tác QLNN đối với BHTN đem lại hiệu quả hơn. Từ khi thực hiện chính sách BHTN, nhiều văn bản được bổ sung hoàn thiện, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn hơn. Việc tạo điều kiện thông qua kênh thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giải thích để các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và NLĐ hiểu biết đầy đủ hơn về mục đích hoạt động của BHTN để có những điều chỉnh cho đúng quy trình của pháp luật là cơ sở để nhà nước quản lý hoạt động BHTN hiệu quả hơn.

5. Quan niệm về hiệu quả QLNN về BHTN và các tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN về BHTN

5.1 Quan niệm về hiệu quả QLNN về BHTN

Việc đánh giá tính hiệu quả của QLNN về BHTN phải được thể hiện qua nhiều khía cạnh, góc độ, đánh giá trên cơ sở toàn diện, chẳng hạn số người tham gia BHTN tăng lên hàng năm. Việc số người tham gia tăng cũng đồng nghĩa với việc tổng thu của quỹ sẽ tăng, do đó, sẽ là tiền đề để đảm bảo an toàn quỹ BHTN. Hơn thế nữa, số người tham gia BHTN tăng sẽ giúp cho Nhà nước giảm những hậu quả về kinh tế - xã hội do những cú sốc về kinh tế, xã hội, những cú sốc từ bên ngoài. Số người tham gia BHTN tăng sẽ giúp nhà nước thực hiện tốt ASXH, trên cơ sở đó tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Số người tham gia bảo BHTN tăng cũng cho thấy tính hợp lý của chính sách BHTN.

QLNN đối với BHTN được coi là hiệu quả khi quỹ BHTN phải an toàn và phát triển. Việc bảo toàn và phát triển quỹ BHTN đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính bền vững của chính sách bởi quỹ BHTN là cơ sở tồn tại của chính sách. Để góp phần tăng cường sự an toàn quỹ, ngoài việc thực hiện tốt chính sách BHTN, tận thu hết các đối tượng thuộc diện tham gia BHTN, hạn chế các trường hợp lạm dụng quỹ, còn cần phải có các biện pháp nhằm đầu tư tăng trưởng quỹ. Nếu không có đầu tư tăng trưởng quỹ BHTN thì quỹ không thể đủ để chi dùng cho tương lai, trong khi nhu cầu thụ hưởng của NLĐ ngày càng tăng cao kể cả về số lượng và chất lượng. Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân thì phải huy động và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực tài chính quốc gia. Qũy BHTN là một bộ phận của tài chính quốc gia. Do vậy, đầu tư tăng trưởng quỹ BHTN là nhu cầu khách quan. Thông qua việc đầu tư vốn vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế, tài chính quốc gia một cách hiệu quả sẽ mang lại kết quả tốt, không chỉ tăng trưởng quỹ mà còn góp phần tăng trưởng kinh tế và lành mạnh hóa thị trường tài chính của đất nước.

QLNN về BHTN được coi là hiệu quả không chỉ trợ cấp bằng tiền cho người thất nghiệp mà còn phải giải quyết tốt việc làm cho người thất nghiệp, giảm tỷ lệ thất nghiệp.

Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách BHTN cần phải được cải tiến cho phù hợp với điều kiện thực tế, tạo điều kiện cho NLĐ, người sử dụng lao động trong việc đóng BHTN và NLĐ trong quá trình thụ hưởng chính sách.

5.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN về BHTN - Số người tham gia BHTN tăng

Có thể sử dụng các chỉ số về số người tham gia BHTN để đánh giá như tỷ lệ giữa số người tham gia với tổng số người thuộc đối tượng tham gia BHTN; tỷ lệ số doanh nghiệp đóng BHTN đúng, đủ theo quy định; số tiền đóng BHTN bình quân NLĐ... Để đánh giá tính hiệu quả của QLNN đối với BHTN.

BHTN xuất phát từ quan hệ lao động và hoạt động chủ yếu dựa trên tình trạng việc làm của NLĐ. Do đó, việc quy định đối tượng tham gia khác nhau tùy vào từng thời điểm là điều rất quan trọng, không chỉ có tác dụng điều chỉnh nguồn thu mà còn tác động là nguồn chi BHTN. Trong thời gian đầu, khi chính sách mới đi vào cuộc sống, đối tượng tham gia BHTN cần được giới hạn để đảm bảo quỹ, sau đó có thể được mở rộng dần để nhằm hỗ trợ cho nhiều nhóm NLĐ yếu thế khi bị mất việc làm. Nhóm NLĐ yếu thế có thể xem xét đến những NLĐ làm việc ở khu vực phi kết cấu, lao động làm việc dưới hình thức hợp đồng ngắn hạn hoặc làm việc trong những doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề không phải là ngành nghề mũi nhọn.

Việc thu BHTN là khâu rất quan trọng cho sự vận hành của chính sách, công tác thu đúng, thu đủ và tránh tình trạng trốn đóng, chậm đóng BHTN. Xu hướng tỷ lệ thuận giữa số lượng lao động trong doanh nghiệp với số lượng người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN cũng được thể hiện khá rõ. Quy mô sử dụng lao động của doanh nghiệp càng cao thì số lượng người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN càng lớn. Thực tế này cho thấy các cơ quan QLNN cần tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra cũng như tăng các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BHXH bắt buộc, BHTN trong đó đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Nếu các giải pháp này được thực hiện tốt và đồng bộ thì số lượng người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN sẽ còn cao hơn khá nhiều so với con số hiện tại. Do đó, song song với việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN cần có các biện pháp nhằm tăng cường công tác thu BHTN, hạn chế tình trạng trốn đóng, nợ đóng BHTN gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ cũng như ảnh hưởng đến tình hình Qũy BHTN.

- Đảm bảo chi đúng các chế độ BHTN

Ngoài công tác thu, cần quan tâm đến công tác chi trả các chế độ BHTN. Việc chi BHTN đảm bảo 3 đúng “đúng đối tượng, đúng chế độ, đúng thời hạn” không những tạo điều kiện trong quá trình thụ hưởng chính sách mà còn đảm bảo độ an toàn của quỹ BHTN.

Có thể sử dụng các chỉ số đánh giá về tiến độ xử lý cho từng chế độ BHTN đối với người thất nghiệp; tỷ lệ giữa số quyết định hưởng TCTN đúng chế độ với tổng số người hưởng TCTN trong kỳ...

Mức và thời gian hưởng BHTN cần phải luôn được đánh giá, xem xét và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế nhằm đảm bảo các nhu cầu tối thiểu trong sinh hoạt, nhưng không được quá cao để tạo động lực cho người thất nghiệp nhanh chóng tìm việc làm mới mà không ỷ lại vào chính sách với thời gian hợp lý để vừa giúp NLĐ ổn định cuộc sống sau khi thất nghiệp, vừa giúp NLĐ có đủ thời gian để để tìm việc làm. Điều này sẽ làm cho việc hỗ trợ đúng cho NLĐ cũng như hạn chế tình trạng lạm dụng chính sách. Mặt khác, cần quan tâm đến các nguyên nhân nghỉ việc của NLĐ để tránh tình trạng lạm dụng chính sách BHTN như: Bỏ việc để hưởng BHTN, thông đồng với người sử dụng lao động để hưởng BHTN, nghỉ việc vì lý do sa thải, kỷ luật nhưng vẫn được hưởng BHTN.

Ngoài ra, vấn đề giải quyết việc làm cho người thất nghiệp cũng là một khía cạnh đánh giá tính hiệu quả của QLNN đối với BHTN. Giải quyết việc làm chính là công đoạn tiếp nối của BHTN. Giải quyết tốt việc làm cho NLĐ chính là góp phần giảm thiểu thất nghiệp và việc thực hiện đầy đủ những quy định về BHTN cũng góp phần phát triển một thị trường lao động lành mạnh. Vì vậy, ngày nay tại các nước phát triển không coi BHTN chỉ là biện pháp giải quyết hậu quả của thất nghiệp một cách thụ động, mà coi BHTN là một chính sách của thị trường lao động tích cực. BHTN không chỉ đơn thuần việc chi trả TCTN, bảo vệ việc làm, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho NLĐ, tìm việc làm cho người thất nghiệp. Do đó, công tác tư vấn giới thiệu việc làm

cần được đẩy mạnh hơn nữa nhằm mục tiêu có ngày càng nhiều người thất nghiệp sớm tìm được việc làm phù hợp với nhu cầu của người sử dụng lao động.

- Đảm bảo an toàn và phát triển quỹ BHTN

Quản lý quỹ cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

Một là, phải đảm bảo an toàn quỹ

Mục tiêu hình thành quỹ BHTN là để góp phần đảm bảo một phần thu nhập cho NLĐ sau khi bị mất việc làm, vì vậy, nguyên tắc an toàn là nguyên tắc hàng đầu trong việc đầu tư quỹ BHTN. Các nhà quản lý quỹ cần có những định hướng đầu tư để bảo đảm cho quỹ BHTN ít rủi ro nhất. Việc đầu tư tăng trưởng quỹ BHTN cần chú ý 3 yếu tố sau đây:

- Xác định xác suất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư.

- Tính toán chặt chẽ khả năng sinh lời của quỹ.

- Xác định lợi ích xã hội của việc đầu tư

Trong đó, yếu tố đầu tiên là quan trọng nhất. Để làm được điều này, đòi hỏi phải có những thông tin đầy đủ về các dự án đã được đầu tư trong lĩnh vực dự định đầu tư và có những phân tích chuyên sâu về vấn đề này, trên cơ sở đó đánh giá xác suất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư để lựa chọn phương án đầu tư an toàn nhất. Nguyên tắc này có thể mâu thuẫn với nguyên tắc sinh lời trong đầu tư thuần túy. Tuy nhiên, đối với quỹ BHTN, là quỹ đặc biệt thì sinh lời là cần thiết nhưng an toàn phải được đặt lên hàng đầu.

Hai là, phải sinh lời

Xét trên góc độ kinh tế thì đầu tư hiệu quả tức là phải sinh ra lợi nhuận, do đó, đầu tư của quỹ BHTN phải đảm bảo nguyên tắc có lãi, nếu đầu tư không sinh lời thì không thể thực hiện được mục tiêu tăng trưởng quỹ, ảnh hưởng đến độ an toàn quỹ cũng như khả năng chi trả cho các chế độ BHTN trong tương lai. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phải đủ bù đắp và vượt trội so với các chi phí và các tổn thất trong quá trình đầu tư. Để thực hiện nguyên tắc này trước hết phải có chiến lược đầu tư tổng thể và có lộ trình cụ thể như xác định danh mục đầu tư, lĩnh vực đầu tư, xem xét tiềm năng và hiệu quả của danh mục đầu tư đó...

Do đặc thù riêng của BHTN nên đối với hoạt động đầu tư quỹ BHTN cần được xem xét, phân tích trên hai phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội.

Những dự án dù có thể chưa đạt hiệu quả tài chính tối ưu nhưng vẫn có thể xem xét lựa chọn để đầu tư khi nó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội tốt hơn các dự án khác. Để có được những đánh giá trên, cần thông qua một hệ thống các chỉ tiêu, đòi hỏi rất nhiều phân tích chuyên sâu phương thức đánh giá và quy trình đánh giá phù hợp nhất.

Ba là, phải có tính thanh khoản

Tính thanh khoản được hiểu là khả năng dễ chuyển thành tiền mặt để thuận lợi cho việc thanh toán và chi tiêu.

Mục tiêu của quỹ BHTN là để đáp ứng những chi trả cho các chế độ mà NLĐ được nhận khi họ bị thất nghiệp ở bất cứ thời điểm nào. Do đó, quỹ cần phải luôn ở trạng thái sẵn sàng chi trả, phần nhàn rỗi của quỹ khi mang đi đầu tư cũng phải dễ dàng thu hồi được khi cần thiết. Đây cũng là điểm đặc biệt giữa đầu tư thông thường và đầu tư từ quỹ BHTN. Vì vậy, quỹ BHTN chỉ có thể đầu tư vào các tài sản mang tính lỏng cao và các tài sản đầu tư có thu nhập thường xuyên và ổn định.

Cách đầu tư chủ yếu của quỹ BHTN là cho các Ngân hàng vay hàng tháng nhận về lãi suất, nhưng trong tương lai, có thể xem xét hình thức đầu tư quỹ BHTN vào các dự án lớn tầm cỡ quốc gia theo các hình thức góp vốn cổ phần, liên doanh vào các ngành mũi nhọn hiện nay như điện tử, viễn thông, khai thác... Tuy nhiên, danh mục đầu tư phải được xem xét đánh giá kĩ càng của các chuyên gia đầu tư.

Bốn là, phải đảm bảo lợi ích xã hội

Việc đầu tư của quỹ BHTN cần xem xét đến các yếu tố xã hội đặc biệt là vấn đề thất nghiệp, tạo nhiều việc làm cho NLĐ, cải thiện môi trường sống và môi trường làm việc cho NLĐ... Nếu làm được điều này, không chỉ có tầm ảnh hưởng tốt đến xã hội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của quỹ, sẽ giảm bớt gánh nặng về chi trả của quỹ, tính bền vững của quỹ sẽ ngày càng được nâng cao. Hình thức đầu tư có thể xem xét đầu tư quỹ vào các công trình dân sinh, nhà ở cho người có thu nhập thấp, tham gia vào các quỹ giải quyết việc làm, quỹ hỗ trợ người xuất khẩu lao động...

- QLNN về BHTN phải góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

Sự kết hợp giữa TCTN bằng tiền và các chính sách hỗ trợ tìm việc làm là cơ chế hiệu quả nhất để bảo vệ người thất nghiệp và gia đình họ thoát khỏi đói nghèo, đồng thời giúp họ tìm được việc làm một cách nhanh chóng. Tất cả các nước đều cung cấp các dịch vụ việc làm thông thường, cần thiết để tìm việc hiệu quả như tư vấn việc làm, hội chợ việc làm, hỗ trợ viết sơ yếu lý lịch, cung cấp thông tin thị trường lao động, lập cơ sở dữ liệu về việc làm, trợ cấp di chuyển, đi lại... Ngoài ra, còn có thể tổ chức các hoạt động nhằm khuyến khích người thất nghiệp tham gia các khóa đào tạo về kỹ năng nghề, kể cả khi đang có việc làm để duy trì việc làm đó hoặc tìm việc mới với mức lương cao hơn hay chế độ đãi ngộ tốt hơn, có thể kéo dài thời gian hỗ trợ học nghề nếu thời gian học nghề vượt quá thời hạn nhận TCTN.

Như vậy, về mặt chính sách, cần phải luôn được khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện nhằm đưa ra các giải pháp để liên tục cải tiến chính sách đảm bảo quyền lợi của NLĐ, giảm tỷ lệ thất nghiệp và các hậu quả mà nó mang lại xuống mức thấp nhất.

- Hệ thống tổ chức thực hiện phải hoạt động hiệu quả

Một chế độ BHTN hợp lý kết hợp chặt chẽ với các biện pháp thị trường lao động sẽ đóng góp tích cực vào việc giảm ảnh hưởng của thất nghiệp đối với những người tham gia bảo hiểm. BHTN có thể được sử dụng như một phần của chiến lược việc làm tạo cho người bị thất nghiệp cơ hội tìm được việc làm mới mà họ nghĩ rằng họ có triển vọng. Sự kết hợp của BHTN với các biện pháp thị trường lao động sẽ hướng tới nâng cao chất lượng của lực lượng lao động thông qua đào tạo và đào tạo lại nghề, giảm số lượng lao động có tay nghề thấp trong thời gian trung hạn. Sự kết hợp này cũng sẽ có khả năng tạo ra một bầu không khí an toàn đối với NLĐ, do vậy dễ được chấp nhận đối với đổi mới công nghệ và thay đổi cơ cấu như hiện nay đang được thực hiện đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Việc tổ chức thực hiện chính sách cần hướng tới mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm số lần đi lại cho NLĐ, có thể áp dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình tổ chức thực hiện nhằm tăng hiệu quả.

- Sự hài lòng của NLĐ đối với chính sách BHTN hiện hành

Sự hài lòng của NLĐ đối với chính sách BHTN thể hiện ở các khía cạnh như chi đúng, chi đủ, kịp thời, các thủ thủ chi phải đơn giản… từ phía các cơ quan QLNN về BHTN. Đây chính là một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả QLNN đối với BHTN.

Chính sách BHTN phải đảm bảo được tính công bằng giữa những người tham gia. Được thể hiện ở chỗ đóng góp và thụ hưởng. Mức hưởng TCTN phải thực sự có hiệu quả trong việc đảm bảo bù đắp một phần thu nhập để cuộc sống của người thất nghiệp được duy trì bình thường, nhưng cũng phải đảm bảo khuyến khích NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm, không ỷ nại vào chính sách của nhà nước. Quỹ BHTN phải chi trả đúng đối tượng…

Một trong các biện pháp để đưa người thất nghiệp nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động là tạo điều kiện cho họ được học nghề. Đào tạo nghề có ý nghĩa rất quan trọng, có thể coi là một khâu then chốt để tạo cho người thất nghiệp chuyển đổi nghề từ đó có cơ hội sớm quay lại thị trường lao động, tạo ra thu nhập, ổn định cuộc sống. Việc hỗ trợ học nghề cho người thất nghiệp nhằm trang bị và nâng cao trình độ chuyên môn nghề của NLĐ nhằm đáp ứng nhu cầu của ngưởi sử dụng lao động. Việc hỗ trợ này phải đảm bảo ở một mức độ nhất định, mức hỗ trợ cần quy định linh hoạt đối với từng nhóm đối tượng để NLĐ có thể dễ dàng tiếp cận với chế độ, thời gian hỗ trợ không quá dài để NLĐ có thể nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên, cần có sự hỗ trợ hợp lý để người thất nghiệp cùng có trách nhiệm, vừa đáp ứng yêu cầu học nghề của người thất nghiệp, vừa đảm bảo an toàn và phát triển quỹ BHTN.

5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN

Vì BHTN mang tính đa mục tiêu và tính liên ngành nên có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN. Có thể đề cập tới một số nhân tố sau:

Một là, trình độ phát triển của nền kinh tế.

Trình độ phát triển kinh tế là tiền đề vật chất và tiền đề kỹ thuật để nâng cao hiệu quả QLNN về BHTN. Nó vừa là điều kiện, vừa là kết quả của việc thực hiện các chính sách xã hội. Nếu như quốc gia có trình độ kinh tế phát triển sẽ có điều kiện vật chất để dễ ràng hơn trong việc đảm bảo ASXH, trong đó có BHTN. Trình độ phát triển kinh tế là tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả QLNN về BHTN thông qua việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào quản lý, tận dụng tối đa công nghệ thông tin để thực hiện quản lý người thất nghiệp.

Trình độ phát triển kinh tế của nước ta vẫn còn thấp, cân đối vĩ mô nhiều khi chưa vững chắc, tăng trưởng vẫn thiên về chiều rộng, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, trình độ khoa học - công nghệ còn yếu kém… Việc hội nhập kinh tế quốc tế cả chiều rộng lẫn chiều sâu đã làm tăng sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh sẽ dẫn đến phá sản, làm tăng số lượng người thất nghiệp. Toàn cầu hóa cũng làm mất đi nhiều ngành nghề truyền thống, đồng thời cũng hình thành nhiều ngành nghề mới… Điều này cũng dẫn đến số lượng người thất nghiệp tăng cao. Do vậy, có thể nói đây là nhân tố tác động trực tiếp tới công tác QLNN về BHTN.

Hai là, phạm vi bao phủ

Mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách BHTN là phạm vi bao phủ của chính sách ngày càng được mở rộng hơn nữa. Phạm vi bao phủ là một nhân tố ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả công tác QLNN về BHTN. Vì nó liên quan đến đối tượng quản lý, số thu, mức chi, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, khả năng kiểm tra, giám sát… Trong giai đoạn đầu, chính sách BHTN mới chỉ trong nhóm đối tượng NLĐ, người sử dụng lao động có khả năng mất việc cũng như có nguy cơ giải thể, phá sản, ngừng sản xuất kinh doanh. Như vậy, đối tượng tham gia BHTN đương nhiên bị “giới hạn” cả về NLĐ và người sử dụng lao động. Sở dĩ có điều này là do lo ngại về khả năng an toàn của quỹ; những nghi ngại về khả năng rủi ro, thất nghiệp cao của nhóm NLĐ yếu thế cũng như sự bền vững của đơn vị nhỏ. Tuy nhiên, chính điều này đã làm cho sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ, giữa những người làm việc theo hợp đồng mùa vụ, những người làm việc theo các loại hợp đồng trên 12 tháng và nhóm lao động làm việc trong khu vực phi kết cấu. Do đó, khi chính sách đã được thực hiện một vài năm, việc tăng phạm vi bao phủ của chính sách là điều rất cần thiết. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN theo hướng để thuận lợi cho NLĐ, người sử dụng lao động cũng như công tác tổ chức thực hiện chính sách BHTN sao cho phù hợp với điều kiện thực tế tại từng thời điểm. Ba là, chu kỳ kinh doanh

Chu kỳ kinh doanh là một trong những nguyên nhân gây ra thất nghiệp chu kỳ. Như vậy, chu kỳ kinh doanh là một trong những nhân tố tác động đến công tác QLNN về BHTN. Chu kỳ kinh doanh thay đổi sẽ dẫn đến cung và cầu lao động trên thị trường lao động cũng thay đổi theo. NLĐ của các ngành sản xuất kinh doanh không phù hợp với thị trường sẽ trở thành người thất nghiệp. Số lao động thất nghiệp càng tăng, biến động càng nhiều thì việc quản lý lại càng khó khăn. Ngoài việc quản lý người được hưởng TCTN còn phải thực hiện tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo và đào tạo lại NLĐ đáp ứng yầu cầu thị trường. Những NLĐ bị thất nghiệp muốn quay trở lại thị trường lao động trong những ngành nghề mới đòi hỏi họ phải được đào tạo lại để có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu mới của công việc, trong khi đó công việc đào tạo này cần phải có thời gian. Thời gian đào tạo lâu sẽ khiến NLĐ chậm tìm được việc làm, ảnh hưởng đến BHTN và tất nhiên là ảnh hưởng đế công tác QLNN về BHTN.

Bốn là, sự phát triển của thị trường lao động

Sự phát triển của thị trường lao động tác động trực tiếp đến lao động, việc làm. Nếu thị trường lao động phát triển sẽ giúp giảm tình trạng thất nghiệp, nếu trình độ phát triển của thị trường lao động không cao sẽ làm tăng tỷ lệ người thất nghiệp. Thị trường lao động phát triển sẽ góp phần điều tiết lao động giữa những nơi thừa lao động với những nơi thiếu lao động và giúp cho NLĐ dễ ràng tìm được việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn.

Các hoạt động hỗ trợ phát triển thị trường lao đông như phát triển các sàn giao dịch việc làm, xây dựng cơ sở về các dữ liệu thị trường: Về cung lao động, về cầu lao động, về tình trạng thất nghiệp… Sẽ là những điều kiện thuận lợi cho BHTN nói chung và công tác QLNN về BHTN nói riêng.

Năm là, tập quán của dân cư

Đây là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác QLNN về BHTN. Nó chi phối đến tác phong, tư tưởng, quan điểm, lối sống trong hoạt động sản xuất kinh doanh của NLĐ. Các yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ thất nghiệp. Thực tế cho thấy, những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, có mức sống cao, trình độ học vấn cao thường cũng có đòi hỏi cao hơn đối với việc làm và thu nhập từ việc làm đó, điều này thường dẫn đến hệ lụy là tỷ lệ thất nghiệp tăng… Thất nghiệp thay đổi thì tất yếu sẽ dẫn tới việc QLNN về BHTN càng khó khăn và phức tạp hơn.

Phong tục, tập quán, văn hoá của NLĐ ảnh hưởng đến ứng xử, văn hóa của họ, thông qua đó ảnh hưởng đến QLNN về BHTN. Nhiều dân cư có quan điểm không quan tâm đến các chính sách nhà nước, tư tưởng trước mắt mà không quan tâm đến lợi ích lâu dài… Đã không tham gia đóng BHTN, hoặc cố tình không minh bạch, liên kết để trục lợi BHTN…Tất cả những động thái này đều có tác động không nhỏ đến công tác QLNN về BHTN.

Sấu là, ý thức tuân thủ chính sách của người tham gia BHTN

Ý thức tuân thủ chính sách pháp luật về BHTN của người sử dụng lao động và NLĐ là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với BHTN. Nếu người sử dụng lao động và người lao động có ý thức tuân thủ chính sách pháp luật tốt thì hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với BHTN được nâng lên và ngược lại nếu không tốt thì hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với BHTN sẽ giảm.

Bảy là, mô hình quản lý BHTN

Mô hình quản lý BHTN là yếu tố tác động trực tiếp, quyết định đến hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với BHTN. Ở các nước có mô hình quản lý tập trung thường nâng cao được tính thống nhất trong quản lý, ở những nước có mô hình quản lý theo hướng chuyên môn hóa thì hiệu quả quản lý thường cao. Tuy nhiên, việc lựa chọn mô hình quản lý nào lại phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm chính trị, kinh tế và xã hội của từng quốc gia.

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

TTrâm Anh

Có tài liệu luận văn về quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp không ạ Gửi em xin ít tài liệu và mẫu luận văn về đề tài này với ạ

Trả lời4 months ago

Thông tin bình luận

Zalo: 096.999.1080