Nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại

Nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại
5/5 (1 đánh giá) 0 bình luận

Nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại

1/ Khái niệm nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại

“Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. [caption id="attachment_4908" align="aligncenter" width="870"]

Khái niệm nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại[/caption] [related_news] Tham khảo thêm các bài viết sau:Dịch vụ thương mại là gì + Huy dong von cua ngan hang thuong mai hien nay + Cán cân thương mại [/related_news]

2/ Các yếu tố trong nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại

a/ Các bên trong bảo lãnh.

Một giao dịch bảo lãnh bao giờ cũng liên quan đến ba bên: Bên bảo lãnh, Bên được bảo lãnh, và Bên thụ hưởng. Quan hệ giữa các bên được quy định bởi các hợp đồng khác nhau, độc lập với nhau. Bên bảo lãnh: Dùng uy tín của mình để đứng ra cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện  nghĩa vụ của mình. Bên được bảo lãnh: là các khách hàng yêu cầu được bảo lãnh, và là bên được ngân hàng cam kết thực hiện thay nghĩa vụ khi vi phạm hợp đồng. Bên nhận bảo lãnh: khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng thì bên nhận bảo lãnh sẽ được thanh toán khi có yêu cầu. Các hợp đồng liên quan đến các bên trong bảo lãnh : + Hợp đồng cơ sở giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng. + Hợp đồng bảo lãnh giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh. + Hợp đồng giữa bên bảo lãnh với bên thụ hưởng ( được gọi là thư bảo lãnh của ngân hàng - bên bảo lãnh ).

b/ Phí bảo lãnh

Phí bảo lãnh là chi phí mà người được bảo lãnh phải trả cho ngân hàng do sử dụng dịch vụ này. Phí bảo lãnh phải đảm bảo bù đắp các chi phí bỏ ra của ngân hàng có tính đến rủi ro mà ngân hàng có thể phải gánh chịu. Nếu xét bảo lãnh dưới góc độ một sản phẩm dịch vụ thì phí bảo lãnh chính là giá cả của dịch vụ đó. Phí bảo lãnh có thể được tính bằng một số tiền cụ thể hoặc tính bằng một tỷ lệ (tỷ lệ này tính trên số tiền được bảo lãnh). Khi tính bằng tỷ lệ thì phí bảo lãnh được tính như sau: Phí bảo lãnh = Tỷ lệ phí * Số tiền bảo lãnh * Thời gian bảo lãnh.    Trong đó: + Tỷ lệ phí (%): được quy định cụ thể tuỳ thuộc vào loại bảo lãnh và tuỳ vào từng bên bảo lãnh là khác nhau. + Số tiền bảo lãnh: là số tiền mà ngân hàng cam kết trả thay   khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng + Thời gian bảo lãnh: Là thời hạn mà bên được bảo lãnh xin bảo lãnh. [caption id="attachment_4907" align="alignnone" width="700"]

 Các yếu tố trong nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại[/caption]

3/ Đặc điểm, vai trò và chức năng của nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại

a/ Đặc điểm của bảo lãnh Ngân hàng.

- Bảo lãnh là một  mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau: Một thư bảo lãnh là một hợp đồng giữa 2 bên, thường là giữa Ngân hàng và Người thụ hưởng. Hợp đồng này độc lập với mối quan hệ trong hợp đồng cơ sở. Tuy nhiên để hiểu cơ chế hoạt động của những công cụ này, cần thiết phải hiểu rằng bảo lãnh không chỉ là mối quan hệ hai bên. Bảo lãnh là một quan hệ tạo thành trong mối quan hệ nhiều bên, bao gồm: + Mối quan hệ hợp đồng giữa Người được bảo lãnh và Người thụ hưởng. + Mối quan hệ hợp đồng giữa Người được bảo lãnh và Ngân hàng. Hợp đồng bảo lãnh sẽ không tồn tại nếu không có hai hợp đồng trên. Dù có sự phân chia, ba mối quan hệ này liên hệ lẫn nhau và các quan hệ này có ảnh hưởng đến nhau. - Sự độc lập của thư bảo lãnh Đặc điểm quan trọng của thư bảo lãnh là sự độc lập của nó đối với hợp đồng cơ sở. Dù rằng mục đích của thư bảo lãnh là để đền bù cho Người thụ hưởng những tổn thất do việc Người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cơ sở gây ra, những Người thụ hưởng chỉ được đòi tiền theo thư bảo lãnh nếu việc đòi tiền đó phù  hợp với những điều khoản, điều kiện đã được quy định trong thư bảo lãnh. Ngân hàng không thể viện cớ do những vấn đề phát sinh từ hợp đồng cơ sở để từ chối nghĩa vụ của mình. Vấn đề “Liệu trong thực tế Người được bảo lãnh thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với Người hưởng thụ hay không? Hoặc liệu người thụ hưởng có được quyền đòi tiền bồi thường như đã quy định trong hợp đồng cơ sở hay không?” không phải là vấn đề đặt ra đối với Ngân hàng khi xem xét  yêu cầu đòi tiền của Người thụ hưởng.Theo đó, một khi những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh được thỏa mãn, Người thụ hưởng về mặt pháp lý được quyền yêu cầu đòi tiền và không cần thiết phải chỉ ra các vi phạm của Người được bảo lãnh bằng cách nào khác ngoài cách quy định trong thư bảo lãnh. Tuy nhiên, qui tắc độc lập này cũng loại trừ những trường hợp lừa đảo. Đối với Ngân hàng, quy tắc độc lập cũng có những thuận lợi. Khi người thụ hưởng có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh, ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra xem những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh có được thỏa mãn hay không. Nhiệm vụ này được thực hiện một cách khá dễ dàng bởi thực tế các điều kiện trả tiền thường được lập dưới dạng chứng từ. Do vậy, ngân hàng không liên quan đến các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng cơ sở giữa Người được bảo lãnh và Người thụ hưởng nên cũng không liên quan đến những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở giữa hai bên. Tuy nhiên tính chất độc lập của bảo lãnh cũng làm tăng rủi ro phải thanh toán hộ khi không có sự trung thực của bên yêu cầu bảo lãnh.

b/ Chức năng của bảo lãnh ngân hàng.

- Chức năng bảo đảm. Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. theo chức năng này người thụ hưởng sẽ nhận được sự bồi thường về mặt tài chính trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm cam kết. Tuy nhiên, người thụ hưởng chỉ được phép đòi tiền theo thư bảo lãnh nếu xuất trình được những chứng từ cần thiết theo đúng các điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh. Bằng việc chấp nhận phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng coi như đó là nghĩa vụ của chính mình vì lợi ích của người được bảo lãnh. Nhưng trong thực tế khả năng xảy ra nghĩa vụ bồi thường của ngân hàng là rất nhỏ. Mặt khác bảo lãnh thường được sử dụng cho các thỏa thuận phi mua bán như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng ... Do đó bảo lãnh không có chức năng thanh toán mà có chức năng bảo đảm. - Chức năng tài trợ Ngân hàng phát hành bảo lãnh như một công cụ tài trợ giúp cho nhà thầu tham gia thay vì mang tiền đến đặt cọc thì chỉ cần bảo lãnh của ngân hàng. Trong trường hợp người thi công công trình hay thực hiện một hợp đồng mua bán có thể sẽ phải dùng đến một số vốn lớn trong một thời gian dài, người thi công sẽ yêu cầu từ người chủ một khoản tiền ứng trước. Lúc này ngân hàng sẽ phát hành bảo lãnh để đảm bảo cho người chủ sẽ ứng trước tiền cho người thi công. Vậy khi xét bảo lãnh ngân hàng ở những mặt này rõ ràng bảo lãnh ngân hàng mang chức năng tài trợ. - Chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng Bảo lãnh cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và khi ngân hàng phải thực hiện việc trả tiền thì ngân hàng có quyền đòi số tiền này từ bên được bảo lãnh. Do đó người được bảo lãnh luôn luôn có một áp lực thúc đẩy họ hoàn tất hợp đồng đã ký kết một cách nhanh chóng. Mặc dù người thụ hưởng sẽ được nhận khoản tiền bồi thường khi có trục trặc xảy ra những cái họ muốn là hợp đồng sẽ hoàn thành nên bảo lãnh mang ý nghĩa đốc thúc hoàn thành hợp đồng hơn là việc bồi hoàn. - Chức năng đánh giá năng lực nhà thầu. Trong giao dịch khi người bán yêu cầu đối tác phải có bảo lãnh của ngân hàng thì mới ký kết hợp đồng do nhiều nguyên nhân như : không hiểu rõ về nhau, chưa từng làm ăn lần nào... Nếu đối tác không có được bảo lãnh của ngân hàng và họ đưa ra các lý do để từ chối điều kiện phải có bảo lãnh thì người bán có thể đánh giá được ngay rằng đối tác của mình là người không đủ tin cậy để thực hiện giao dịch. Trong trường hợp đó người bán sẽ chấm dứt ngay quan hệ làm ăn với đối tác vì họ hiểu khi ngân hàng không đồng ý bảo lãnh cho đối tác của họ, tức là đối tác là người không có đủ uy tín và năng lực để thực hiện hợp đồng.

c/ Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.

Trong giao dịch bảo lãnh, mỗi một chủ thể tham gia đều được hưởng lợi ích khác nhau từ dịch vụ này. Như vậy bảo lãnh có vai trò khác nhau với các bên tham gia. - Vai trò của bảo lãnh ngân hàng đối với doanh nghiệp: Trong các quan hệ kinh tế không phải lúc nào các đối tác cũng tin tưởng nhau do rất nhiều nguyên nhân. Vì thế để đảm bảo an toàn quan hệ làm ăn, bên cung cấp thường yêu cầu bên kia phải có bảo lãnh của ngân hàng thì giao dịch mới được thực hiện. Do đó bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc để bước đầu giúp cho doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận tới hợp đồng. Một vai trò nữa của bảo lãnh ngân hàng cũng rất quan trọng đối với doanh nghiệp là khi doanh nghiệp sử dụng dịch vụ này của ngân hàng giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được khoản vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn  lưu động của doanh nghiệp trong khi đó doanh nghiệp chỉ phải trả một khoản phí bảo lãnh tương đối thấp. Vai trò thứ ba của bảo lãnh ngân hàng là giúp tăng thêm uy tín của doanh nghiệp với các đối tác. Bởi vì một doanh nghiệp được ngân hàng bảo lãnh chắc chắn sẽ đáng tin cậy hơn một doanh nghiệp không được ngân hàng bảo lãnh. - Vai trò bảo lãnh đối với ngân hàng : Đối với ngân hàng bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế hay nói cách khác là ngân hàng “ bán” dịch vụ bảo lãnh. Vậy việc “ bán” này đem lại gì cho ngân hàng?    Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thương mạih đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng đó là phí bảo lãnh . Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, nó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các ngân hàng hiện nay. Một ưu điểm của bảo lãnh ngân hàng là không phải trả chi phí huy động như hoạt động cho vay, không mất chi phí cơ hội cho mục đích kinh doanh khác... Và mỗi khi thực hiện bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chắc chắn thu được khoản phí này. Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ trong ngân hàng và giúp làm giảm sự phụ thuộc lợi nhuận vào hoạt động tín dụng tức là đã giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mất vốn. Mặt khác thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh giúp ngân hàng làm tốt hơn chính sách khách hàng, vừa đáp ứng nhu cầu của khách hàng truyền thống, điều này giúp ngân hàng gắn bó hơn nữa với khách hàng truyền thống , vừa thu hút các khách hàng mới. Như vậy không chỉ giúp ngân hàng tăng thêm lợi nhuận từ hoạt động này mà còn thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng: huy động vốn, thanh toán, tín dụng ... Ngoài ra bảo lãnh nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng đặc biệt là trên trường quốc tế. Thông qua bảo lãnh ngân hàng tạo được thế mạnh, uy tín giúp tăng khách hàng và lợi nhuận. - Vai trò bảo lãnh đối với nền kinh tế. Sự tồn tại bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh tế, đáp ứng nền kinh tế ngày một phát triển. Nó tồn tại được như là do vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng có vai trò như một chất xúc tác làm điều hoà và xúc tiến hàng loạt các quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế và có trách nhiệm với hợp đồng mình đã ký kết. Bảo lãnh đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia và là công cụ để thúc đẩy trao đổi buôn bán giữa các bên do đó có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế. Bảo lãnh có vai trò quan trọng trong việc tăng thêm nguồn vốn cho các doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế. Nhất là đối với những nước như nước ta hiện nay đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì vốn đầu tư là vô cùng quan trọng. Nhưng để có được vốn đầu tư của nước ngoài thì các doanh nghiệp nước ta chưa đủ uy tín do đó phải cần đến ngân hàng đứng ra bảo lãnh để các đối tác cho vay nước ngoài yên tâm bỏ vốn cho các doanh nghiệp nước ta sản xuất kinh doanh. Như vậy nhờ vào uy tín của ngân hàng bảo lãnh, bảo lãnh trở thành công cụ tiếp cận tới các nguồn vốn của nước ngoài. Nguồn vốn này thường được tập trung vào sản xuất tạo điều kiện cho doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ từ đó giúp doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài ra sản xuất phát triển kéo theo các lợi ích về kinh tế xã hội như: giảm thất nghiệp, tăng GDP... tức là giúp nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ . Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thương mại còn góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia. Chúc các bạn học tập tốt! [related_news] Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ :Nhận làm luận văn thạc sĩNhận viết assignmentDịch vụ chạy spss chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé! [/related_news] Từ khóa tìm kiếmnghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thương mại

Bài viết nổi bật
Bình luận đánh giá
Đánh giá