Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Kế toán
Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
5/5 (3 đánh giá) 3 bình luận

Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như : giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay,....

Tham khảo thêm các bài viết tương tự khác:

Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

+ Cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại doanh nghiệp

Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.1. Khái niệm chi phí sản xuất

Khái niệm chi phí sản xuất:

Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần tiêu hao các nguồn lực ( tài sản, nhân công). Quá trình tiêu dùng các nguồn lực đồng thời là quá trình phát sinh các chi phí. Khi đó, doanh nghiệp cần ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao động, đối tượng lao động và lực lượng lao động. Mọi chi phí đều được biểu hiện dưới dạng giá trị, trong đó chi phí về tiền công là biểu hiện bàng tiền của hao phí lao động sống, còn chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, điện nước, chi phí về khấu hao tài sản...là biểu hiện bằng tiền của lao động vật hóa. Chi phí hoạt động của doanh nghiệp phát sinh trong tất cả giai đoạn của sản xuất nhưng chỉ có các chi phí phát sinh trong giai đoạn biến đổi yếu tố đầu vào thành các sản phẩm, dịch vụ mới gọi là chi phí sản xuất.

Theo ủy ban tiêu chuẩn Kế toán quốc tế ( IASC) : Chi phí là sự giảm đi của các lợi ích kinh tế trong một kỳ kế toán dưới các hình thức mất đi hoặc giảm giá trị của tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ, chi phí sẽ làm giảm vốn của chủ sở hữu ngoại trừ các khoản giảm do phân phối cho chủ sở hữu.

Quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây lắp là quá trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào tạo thành sản phẩm đó là những công trình, hạng mục công trình, các sản phẩm, lao vụ dịch vụ, phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.

Các yếu tố đầu vào đó là các tư liệu lao động, đối tượng lao động, dưới sự tác động của lao động qua quá trình biến đổi tạo thành các sản phẩm công trình, hạng mục công trình... Để đo lường các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng hoạt động kinh doanh, tổng hợp và xác định kết quả đầu vào phục vụ cho quá trình quản lý mọi hao phí đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ gọi là chi phí sản xuất kinh doanh.

Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.

Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như : giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền... Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết bị.

Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như : chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng...

Trong doanh nghiệp xây lắp, để làm ra các công trình có kết cấu và thiết kế kiến trúc đã được đặt hàng bởi chủ đầu tư thì doanh nghiệp xây lắp phải hao tổn các chi phí về vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị... và khi công trình hoàn thành được chủ đầu tư thanh toán.

1.2. Phân loại chi phí sản xuất trên góc độ kế toán tài chính

1.2.1   Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Theo cách phân loại này các chi phí nội dung, tính chất kinh tế giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích và tác dụng của chi phí đó như thế nào.

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố sau đây.

-  Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, thiết bị XDCB...mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ như: Xi măng, sắt, thép, cát, đá, các loại dầu mỡ vận hành máy móc…

-  Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương phải trả và các khoản trích theo lương của các công nhân sản xuất trong kỳ.

-   Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp trích khấu hao cho tất cả các loại TSCĐ tham gia hoạt động xây lắp như : các loại máy thi công (máy vận thăng, máy cẩu…), nhà xưởng, phương tiện vận chuyển…

-  Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền DN đã chi trả về các loại dịch vụ mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

-   Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ các chi phí dùng cho hoạt động sản xuất ngoài chi phí kể trên.

Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí giúp nhà quản lý biết được kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí trong tổng chi phí qua đó đánh giá được tình hình thực hiện dự toán chi phí. Hơn nữa, cách phân loại này còn là cơ sở để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố trên Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, xây dựng định mức Vốn lưu động, lập kế hoạch mua sắm vật tư, tổ chức lao động tiền lương, thuê máy thi công…

1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí

Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng.

-  Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ trị giá nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra (vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện bê tông chế sẵn…) chi phí này không bao gồm thiết bị do chủ đầu tư bàn giao.

-  Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương chính, lương phụ và phụ cấp của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân vận chuyển vật liệu thi công, công nhân làm nhiệm vụ bảo dưỡng, dọn dẹp trên công trường.

-  Chi phí sử dụng máy thi công: Gồm chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công để thực hiện công tác xây dựng và lắp đặt các CT, HMCT bao gồm: Tiền lương công nhân điều khiển máy, nhiên liệu, khấu hao máy thi công,...v.v...

-  Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí có liên quan đến tổ, đội xây lắp, tức là liên quan đến nhiều CT, HMCT. Nội dung của các khoản chi phí này bao gồm: lương công nhân sản xuất, lương phụ của công nhân sản xuất, khấu hao TSCĐ (không phải là khấu hao máy móc thi công), chi phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước, văn phòng phẩm….),chi phí bằng tiền khác: Chi phí tiếp khách, nghiệm thu bàn giao công trình.

Các phân loại này phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, từ đó lập định mức chi phí sản xuất và kế hoạch giá thành cho kỳ sau.

Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phương pháp lập dự toán trong XDCB là dự toán được lập cho từng đối tượng theo các khoản mục giá hành nên cách phân loại chi phí theo khoản mục là phương pháp sử dụng phổ biến trong các DNXDCB.

1.3. Phân loại chi phí sản xuất trên góc độ kế toán quản trị

Trong kế toán quản trị, tùy thuộc vào nhu cầu quản lý, chi phí được phân loại theo cách thức sau:

1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp được chia thành: Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.

-  Chi phí sản xuất: là toàn bộ chi phí liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hoặc dịch vụ trong một kỳ kinh doanh, bao gồm: CP NLVL trực tiếp, CP NCTT, CP sử dụng máy thi công, CP SXC.

-  Chi phí ngoài sản xuất: đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

Cách phân lọai này giúp nhà quản lý xác định được trách nhiệm quản lý của nhà quản trị các bộ phận, xác định mức biến động chi phí ở từng bộ phận để tìm ra nguyên nhân và có những giải pháp khắc phục. Không những thế, cách phân loại này còn cung cấp thông tin cho việc lập dự toán chi phí theo từng bộ phận chức năng, làm cơ sở để xác định giá thành sản phẩm.

1.3.2  Phân loại chi phí sản xuất trong mối quan hệ với lợi nhuận xác định từng kỳ

Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành: chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.

-   Chi phí sản phẩm: Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp, CP sản phẩm bao gồm: CP NLVL trực tiếp, CP NCTT, CP sử dụng máy thi công, CP SXC. Khi sản phẩm xây lắp chưa được tiêu thụ thì chi phí sản phẩm sẽ nằm trên giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Khi sản phẩm xây lắp được tiêu thụ, chi phí sản phẩm xây lắp sẽ trở thành giá vốn hàng bán trong báo cáo kết quả kinh doanh

-  Chi phí thời kỳ: là những CP phát sinh và ảnh hưởng đến trực tiếp đến lợi nhuận trong cùng một kỳ kế toán, thuộc loại CP này gồm: chi phí bán hàng, CP quản lý doanh nghiệp.

Phân loại chi phí trong mối quan hệ với lợi nhuận xác định từng kỳ là cơ sở để phân tích sự biến động chi phí qua các kỳ kinh doanh, đánh giá hiệu quả quản lý của các bộ phận và xác định chi phí phát sinh trong từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp.

1.3.3  Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành: CP khả biến, CP bất biến, CP hỗn hợp.

-  Chi phí khả biến: là các chi phí có sự thay đổi tỷ lệ với các mức độ hoạt động như CP NLVL trực tiếp, CP NCTT. Tổng chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng hoặc giảm của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi.

-  Chi phí bất biến: là những chi phí không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động đạt được. Thuộc loại chi phí này gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương nhân viên quản lý…

-  Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả biến phí và định phí như chi phí điện, điện thoại… Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến.

2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm

2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp:

Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy định.

Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động SXKD và quản lý kinh tế của doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu giá thành người ta có thể đánh giá được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp như thế nào. Đồng thời thông qua chỉ tiêu giá thành người ta có thể đánh giá được trình độ hạch toán và mức tăng năng suất của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản phẩm là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc phấn đấu hạ giá thành là mục tiêu kinh tế hàng đầu của mỗi doanh nghiệp, mà muốn đạt được mục tiêu này mỗi doanh nghiệp cần phải tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm sản

xuất một cách khoa học, chính xác, kịp thời và đúng đối tượng, đúng chế độ quy định.

2.2  Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp:

Trong XDCB, giá thành sản phẩm thường được phân loại theo các tiêu thức sau đây.

2.2.1 Căn cứ vào thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành

Giá thành sản phẩm được phân loại thành:

-   Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp CT, HMCT được xác định trên cơ sở các định mức, các quy định của Nhà Nước và khung giá quy định theo từng vùng lãnh thổ.

Giá thành dự toán của CT, HMCT = Giá trị dự toán của CT, HMCT - Lãi định mức

-   Giá thành kế hoạch: Được xác định xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở một doanh nghiệp xây lắp nhất định, trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức và đơn giá dùng trong doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch được xác định như sau:

Giá thành kế hoạch   = Giá thành dự toán +  Khoản bù chênh lệch vượt quá dự toán

Khoản bù chênh lệch vượt dự toán là các khoản bù phần chi phí chưa được tính đến trong dự toán.

-  Giá thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của những chi phí thực tế để hoàn thành khối lượng xây lắp. Căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, chi phí sản xuất được tập hợp trong kỳ. Giá thành sản phẩm bàn giao được xác định theo công thức.

Giá thành thực của KL xây lắp HT bàn giao = CP thực tế KL xây lắp dở dang đầu kỳ + CP thực tế phát sinh trong kỳ - CP khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ

Muốn đánh giá được chất lượng của công tác xây lắp, ta phải tiến hành so

sánh các loại giá thành với nhau. Để đảm bảo có lãi, về nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giá thành và tổ chức thực hiện kế hoạch giá thành phải đảm bảo mối quan hệ sau.

Giá thành thực tế ≤ Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán.

2.2.2 Căn cứ vào phạm vi tính giá thành, giá thành sản phẩm được phân loại thành:

-   Giá thành sản phẩm hoàn chỉnh: Là giá thành của CT, HMCT đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng theo thiết kế, hợp đồng được chủ đầu tư chấp nhận thanh toán.

-   Giá thành công tác xây lắp hoàn thành quy ước: Là giá thành của khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải đảm bảo điều kiện.

+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng quy định.

+ Khối lượng phải được xác định một cách cụ thể, được Chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán

+ Phải đạt được đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.

Đối tượng, kỳ tính giá và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành:

Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành mà doanh nghiệp cần tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm.

Đối với DNXL thì đối tượng tính giá thành thường là các công trình, hạng mục công trình hoàn thành trong kỳ.

Kỳ tính giá thành: Là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành tiến hành công việc tính giá thành cho đối tượng tính giá thành và nó phụ thuộc vào loại hình sản xuất của doanh nghiệp. Đối với DNXL do sản phẩm được SX theo từng đơn đặt hàng, thời gian thi công dài, giá trị công trình lớn nên kỳ tính giá thành thường là thời điểm nhà thầu và đơn vị chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu thanh toán.

2.2.3 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành

Tính giá thành sản phẩm là giai đoạn quyết định của công tác hạch toán giá thành. Giá thành sản phẩm được tính dựa trên các yếu tố: Phương pháp tính giá thành, CPSX thực tế phát sinh, giá trị SP dở dang đầu kỳ và cuối kỳ hạch toán. Do đó, giá thành SP cũng phụ thuộc vào phương thức thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công.

+   Nếu quy định thanh toán SPXL sau khi hoàn thành toàn bộ, giá thành SPXL hoàn thành được xác định trên cơ sở tổng cộng các chi phí phát sinh đến khi hoàn thành công trình.

+  Nếu quy định thanh toán SPXL theo điểm dừng kỹ thuật, trong kỳ báo cáo có thể có một bộ phận công trình hay khối lượng công việc hay giai đoạn hoàn thành được chủ đầu tư chấp thuận nghiệm thu thanh toán. Khi đó, giá thành khối lượng công tác xây lắp đã hoàn thành và bàn giao trong kỳ được tính theo công thức sau đây:

Tổng giá thành SPXL hoàn thành = CPSX dở dang đầu kỳ + CPSX phát sinh trong kỳ - CPSX dở dang cuối kỳ.

3. Kế toán chi phí sản xuất trong DN xây lắp dưới góc độ kế toán tài chính

3.1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

3.1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm. Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí hay xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.

Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí cần căn cứ vào các yếu tố sau đây.

+  Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất.

+   Đặc điểm, cơ cấu tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ, chế tạo sản phẩm (giản đơn, liên tục hay song song…)

+  Loại hình sản xuất sản phẩm (Đơn chiếc hay hàng loạt…)

+  Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kế toán nội bộ Doanh nghiệp.

+   Khả năng trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng của Doanh nghiệp

3.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

Đối với XDCB, do phát sinh nhiều chi phí mà quá trình sản xuất lại phức tạp và sản phẩm mang tính đơn chiếc có quy mô lớn và thời gian sử dụng lâu dài. Mỗi CT lại bao gồm nhiều HMCT, nhiều công việc khác nhau nên có thể áp dụng phương pháp tập hợp chi phí sau:

  •       Phương pháp trực tiếp được áp dụng khi chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp với từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt. Phương pháp này đòi hỏi phải tổ chức việc ghi chép ban đầu theo đúng đối tượng, trên cơ sở đó kế toán tập hợp số liệu theo từng đối tượng liên quan và ghi trực tiếp vào sổ kế toán theo đúng đối tượng. Phương pháp ghi trực tiếp đảm bảo việc hạch toán CPSX chính xác.
  •       Phương pháp phân bổ gián tiếp được áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng rẽ theo từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt.

Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan kế toán phải tiến hành theo trình tự sau:

+ Tổ chức ghi chép ban đầu( ghi chứng từ gốc) chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từ đó tổng hợp số liệu trên chứng từ kế toán theo địa điểm phát sinh chi phí.

+ Chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp với từng loại chi phí để tính toán, phân bổ chi phí sản xuất đã tổng hợp cho các đối tượng liên quan.

+ Xác định hệ số phân bổ ( H )

H= C/ T

Trong đó :

- C: Tổng chi phí sản xuất cần phân bổ

- Ti: Tiêu thức phân bổ của đối tượng i

+ Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng (i)

C¡ = H x T¡

Trong đó: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i

Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ ( còn được gọi là đơn vị công) được lựa chọn tùy vào trường hợp cụ thể. Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.

Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí cần phân bổ. Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào từng đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.

3.2. Kế toán chi phí sản xuất theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chịu sự chi phối trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, số 02, số 03, số 04, cụ thể:

3.2.1 Chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) : chuẩn mực chung.

Kế toán chi phí sản xuất cần tuân thủ 7 nguyên tắc kế toán sau:

-   Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Như vậy, mọi chi phí phát sinh của doanh nghiệp phải được ghi nhận tại thời điểm phát sinh, không căn cứ vào dòng tiền ra vào doanh nghiệp. Chỉ khi tuân thủ đúng nguyên tắc này, báo cáo tài chính mới phản ánh được tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

-  Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.

Mọi tài sản của doanh nghiệp khi xuất dùng ( nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ) phải được ghi nhân theo giá gốc, khi phản ánh chúng theo giá thị trường tại thời điểm đưa tài sản đó vào quá trình sản xuất sản phẩm. Thực hiện nguyên tắc này để đảm bảo tính khách quan của số liệu kế toán, xác định được

kết quả kinh doanh và đơn giản hơn trong việc ghi chép, thuận lợi cho công tác quản lý.

-  Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhân doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhân một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.

Do đó, tất cả cả các khoản chi phí cấu thành nên sản phẩm sẽ được tập hợp tạo ra giá vốn của sản phẩm đó và phải phù hợp với doanh thu của sản phẩm được cung cấp trong khoảng thời gian xác định.

-   Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Tuân thủ nguyên tắc nhất quán, đảm bảo cho việc ghi nhận các yếu tố chi phí một cách hợp lý, không tạo nên các thay đổi bất thường trong giá thành sản phẩm( khi thay đổi về phương pháp khấu hao TSCĐ, phương pháp xác định trị giá hàng xuất kho,... trong kỳ kế toán).

-  Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn, không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí, doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí. Cần phải tuân thủ nguyên tắc này để hạn chế tối đa những bất lợi trong tương lai.

-  Nguyên tắc trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.

Đồng thời theo VAS 01, chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy.

Các chi phí được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi lợi ích kinh tế dự kiến trong nhiều kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ. Một khoản chi phí được ghi nhận ngay vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ khi chí phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong kỳ sau.

3.2.2 Chuẩn mực kế toán số 02 (VAS 02) : Kế toán hàng tồn kho

Theo quy định của VAS 02 – Hàng tồn kho, giá gốc hàng tồn kho đã bán được ghi nhân là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng. Giá vốn hàng bán được xác định theo một trong 4 phương pháp: phương pháp đích danh, bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước. Ngoài ra, trong giá vốn hàng bán còn bao gồm phần định phí sản xuất chung dưới công suất bình thường của máy móc thiết bị.

Đối tượng điều chỉnh của chuẩn mực hàng tồn kho như TS được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường ( thành phẩm), hay đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang ( bán thành phẩm hay các sản phẩm dở dang) và các nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ sản xuất. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của chuẩn mực này cũng chính là đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nội dung chính của chuẩn mực đề cập đến là cách xác định trị giá của hàng tồn kho theo phương pháp giá gốc.

Giá gốc hàng tồn kho bao gồm : Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

Các chi phí được tính vào giá gốc hàng tồn kho là:

-  Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: giá mua của hàng tồn kho và chi phí mua hàng ( bốc dỡ, vận chuyển,...) các khoản chiết khấu thuơng mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua.

-  Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí lương, các khoản phụ cấp có tính chất lương, khoản trích theo lương theo quy định Pháp luật.

-  Chi phí sản xuất chung bao gồm: các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất như CPSX chung cố định và CPSX chung biến đổi.

+   Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng... và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất.

+   Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp.

Tóm lại, quá trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm về thực chất cũng là xác định giá trị hàng tồn kho theo nguyên tắc giá gốc nên giá thành sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ bao gồm 03 yếu tố CPSX kể trên có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất.

3.2.3 Chuẩn mực kế toán số 03 (VAS 03) Tài sản cố định hữu hình

Khấu hao TSCĐ có ảnh hưởng rất lớn đối với chi phí sản xuất sản phẩm tại các doanh nghiệp, bởi lượng TSCĐ sử dụng cho việc sản xuất sản phẩm là rất lớn, TSCĐ thường có giá trị cao.

Giá trị khấu hao TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho DN. Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác.

Trong quá trình sản xuất công ty nào cũng dùng các tư liệu sản xuất như nhà xưởng máy móc thiết bị và các TSCĐ khác. Khi các yếu tố này tham gia trong quá trình sản xuất thì giá trị của nó được dịch chuyển dần dần vào giá trị của các sản phẩm- phần giá trị này được gọi là giá trị hao mòn của TSCĐ do tham gia vào quá trình SXKD.

Mọi TSCĐ của DN có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao. Mức trính khấu hao TSCĐ được hoạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ. Vì vậy, doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ giá trị khấu hao TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong kỳ theo quy định của VAS03. Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng TSCĐ đó. TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu tài sản của DN. Vì vậy, việc tính toán xác định chi phí khấu hao TSCĐ luôn là công tác trọng tâm trong kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm.

Có ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình , gồm:

-  Phương pháp khấu hao đường thẳng

-  Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần

-  Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm

Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TS. Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính TS có thể tạo ra. Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó.

3.3. Kế toán chi phí sản xuất theo chế độ kế toán hiện hành

Cũng như các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước, doanh nghiệp kinh doanh xây lắp thực hiện hạch toán kế toán theo

TT   số 200/2014/TT- BTC ngày 22/12/2014 của BTC). Theo thông tư này, các doanh nghiệp xây lắp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế toán sử dụng các tài khoản sau: TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”, TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công”, TK 627 “Chi phí sản xuất chung” TK 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.

3.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

-   TK sử dụng: Tài khoản 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” dùng để phản ánh các chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động XL, bao gồm:

+ Vật liệu xây dựng: Cát, đá, sỏi, sắt, thép, xi măng, …

+ Vật liệu khác: Phụ gia, đinh, đất đèn, dây thép, …

+ Nhiên liệu: Than, củi, …

+ Vật kết cấu: Cọc bê tông cốt thép đúc sẵn, lan can, gờ chắn đúc sẵn, … Để xác định chi phí NVLTT thực tế trong kỳ, kế toán căn cứ vào các yếu tố

sau: trị giá nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp, trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại đầu kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất, trị giá nguyên vật liệu

trực tiếp còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, trị giá phế liệu thu hồi ( nếu có). Chi phí

NVLTT thực tế trong kỳ được xác định theo công thức:

Chi phí NVLTT Trong kỳ = Trị giá NVLTT còn lại đầu kỳ + Trị giá NVLTT xuất dùng trong kỳ - Trị giá NVLTT còn lại cuối kỳ - Trị giá phế thu hồi (nếu có)

-     Chứng từ sử dụng : Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01 – VT); Phiếu xuất kho (Mẫu số 02-VT); Hóa đơn giá trị gia tăng ( Mẫu số 1- GTGT); Bảng phân bổ vật liệu, CCDC ( Mẫu số 07 – VT)...

-  Kết cấu TK621

Bên Nợ : Trị giá thực tế nguyên liệu vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất, sản phẩm trong kỳ hạch toán.

Bên Có:

-   Kết chuyển trị giá nguyên vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trong kì vào TK 154 “ chi phí sản xuất,kinh doanh dở dang” hoặc TK 631 “ giá thành sản xuất” và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành sản phẩm , dịch vụ :

-   Kết chuyển chi phí nguyên liệu , vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632;

-  Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho Tài khoản 621 không có số dư cuối kì .

Các tài khoản liên quan : TK 152 – “ Nguyên liệu, vật liệu”; TK111- “tiền mặt”TK 112 – “ Tiền gửi ngân hàng” ; TK 331 – “ Phải trả cho người bán”; TK 154 – “ Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang”....

Phương pháp hạch toán (Phụ lục số 23)

3.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm cả các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm thuộc danh sách quản lý của doanh nghiệp và cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc như : Tiền lương, tiền công ,các khoản phụ cấp , các khoản trích theo lương ( Bảo hiểm xã hội , Bảo hiểm y tế , kinh phí công đoàn )

  •       Chứng từ sử dụng : Bảng thanh toán tiền lương ( Mẫu số 02-LĐTL,HD);

Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ ( Mẫu số 06 – LĐTL, HD ); bảng kê trích nộp các khoản theo lương ( Mẫu số 10 LĐTL,HĐ); bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội ( Mẫu số 11- LĐTL,HD) và các chứng từ khác .

  •        Tài khoản sử dụng

Tài khoản chính : TK 622 “ Chi phí nhân công trực tiếp” Kết cấu của TK 622

Bên Nợ : Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm bao gồm : Tiền lương, tiền công lao động và các khoản trích trên tiền lương theo quy định phát sinh trong kì .

Bên Có :

-  Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ TK 154 “ Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc vào bên nợ TK 631 “ Giá thành sản xuất” ;

-  Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp trên mức bình thường vào TK 632 Tài khoản 622 không có số dư cuối kì .

Các tài liệu liên quan : TK 334 “ Phải trả người lao đông” , TK 338 “ Phải

trả , phải nộp khác” , TK 335 “ Chi phí phải trả” , TK 154 “ chi phí sản xuất , kinh doanh dở dang” và các tài khoản khác .

Phương pháp hạch toán ( Phụ lục số 24)

3.3.3 Kế toán chi phí sản xuất chung

-  Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng TK 627 “Chi phí sản xuất chung”. Tài khoản này dùng để phản ánh CPSX của đội, công trường xây dựng, gồm: Lương nhân viên quản lý đội xây dựng; các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả công nhân trực tiếp XL, nhân

viên quản lý đội (thuộc biên chế của DN); chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng cho thi công quản lý đội; chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của đội. Các khoản CPSX chung liên quan trực tiếp đến công trình, hạng mục công trình nào thì hạch toán trực tiếp vào công trình, hạng mục công trình đó. Nếu có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình thì tiến hành phân bổ cho từng đối tượng theo tiêu thức phù hợp.

- Chứng từ sử dụng : Phiếu xuất kho (Mẫu số 02-VT), Hóa đơn ( Mẫu số 01-GTGT hoặc 02- GTKT); Bảng phân bổ vật liệu,CCDC ( Mẫu số 07-VL); Phiếu chi, giấy báo nợ; Bảng phân bố TSCĐ; Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung...

- Tài khoản sử dụng:

Tài khoản 627 “ Chi phí sản xuất chung” có 2 TK cấp 2:

+  TK 6271 : Chi phí nhân viên phân xưởng

+  TK 6272 : Chi phí vật liệu

+  TK 6273 : Chi phí dụng cụ sản xuất

+  TK 6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài

+  TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác

Bên Nợ : Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ

Bên Có :

- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung

-Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ do mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường

-  Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên Nợ TK 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” hoặc bên Nợ TK631 “ Giá thành sản xuất”

TK627 không có số dư cuối kỳ

Các TK khác liên quan : TK 111 “ Tiền mặt” , TK112 “ Tiền gửi ngân hàng”, TK214” Hao mòn TSCĐ” , TK331” Phải trả cho người bán”, TK334” Chi phí phải trả”, TK154” Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang”.

-   Phương pháp hạch toán: (Phụ lục số 25)

3.3.4 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

-   Tài khoản sử dụng: TK 623 – “Chi phí sử dụng máy thi công”. Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động XL công trình. Không hạch toán vào tài khoản này các khoản trích về BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công. Chỉ sử dụng tài khoản này trong trường hợp DNXL thực hiện XL công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.

-   Chứng từ sử dụng : Phiếu xuất kho vật tư sử dụng, hóa đơn bán hàng, bảng chấm công của công nhân điều khiển máy thi công, Bảng tính khấu hao, Nhật trình sử dụng máy.... Nếu sử dụng máy thi công thuê ngoài thì đội trưởng đội thi công tập hợp chứng từ : Hợp đồng thuê máy, Biên bản thanh lý hợp đồng được chuyển về phòng kế toán làm căn cứ phân bổ cho từng đối tượng liên quan, chi phí máy thi công sử dụng cho công trình nào thì phân bổ công trình đó.

* Trường hợp DN tổ chức đội máy thi công riêng và có tổ chức kế toán riêng thì không sử dụng TK623 mà toàn bộ chi phí liên quan trực tiếp đến đội máy thi công được tập hợp riêng trên các TK621, TK622, TK627. Sau đó, các khoản mục này được kết chuyển để tính giá thành cho một ca máy (giờ máy) thực hiện và cung cấp cho các đối tượng XL công trình, hạng mục công trình.

3.3.5  Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp

Tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng và những chi phí không thể tập hợp trực tiếp theo từng đối tượng thì phải tính phân bổ các chi phí này cho từng đối tượng theo tiêu thức thích hợp. Trong ngành xây dựng cơ bản thường phân bổ chi phí sử dụng máy thi công và phân bổ chi phí sản xuất chung.

Phân bổ chi phí sử dụng máy thi công

Chi phí sử dụng máy thi công được phân bổ cho các đối tượng xây lắp theo phương pháp thích hợp căn cứ vào số ca máy hoặc khối lượng phục vụ thực tế.

Phân bổ chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng công trường, hoặc đội thi công hoặc toàn doanh nghiệp và tính phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theo tiêu thức thích hợp như phân bổ theo chi phí sản xuất chung định mức, phân bổ theo giờ công sản xuất kinh doanh định mức hoặc thực tế, phân bổ theo chi phí nhân công, phân bổ theo chi phí trực tiếp. Để tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp sử dụng TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”

-  Phương pháp hạch toán: (Phụ lục số 29)

3.3.6 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

SP dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quy trình sản xuất, chế biến, đang nằm trên dây chuyền công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành SP hoàn chỉnh.

Sản phẩm dở dang của các doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành khối lượng công tác xây lắp trong kỳ và chưa được chủ đầu tư nghiệm thu chấp nhận thanh toán.

Muốn đánh giá sản phẩm dở dang một cách chính xác cần phải tiến hành kiểm kê khối lượng nguyên nhiên vật liệu chưa sử dụng đến ở công trường thi công. Bộ phận kế toán cần kết hợp chặt chẽ với cán bộ kỹ thuật tại công trường thi công để xác định mức độ hoàn thành của khối lượng xây lắp dở dang.

Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang mà DNXL thường áp dụng là: đánh giá theo giá dự toán và mức độ hoàn thành của sản phẩm xây lắp dở dang. Áp dụng đối với các trường hợp công trình, hạng mục công trình bàn giao thanh toán theo từng giai đoạn hoàn thành, sản phẩm dở dang là các giai đoạn xây lắp chưa hoàn thành. Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ theo phương pháp phân bổ chi phí thực tế căn cứ vào giá thành dự toán và mức độ hoàn thành theo các bước sau:

Chi phí sản xuất Thực tế dở dang Cuối kỳ của từng giai đoạn = (( Chi phí thực tế dở dang đầu kỳ + Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ) / ( Giá thành dự toán của khối lượng xây lắp hoàn thành trong kỳ + Tổng giá thành dự toán khối lượng dở dang cuối kỳ của các giai đoạn ) ) X Giá thành dự toán khối lượng dở dang cuối kỳ của từng giai đoạn

4 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trên phương diện kế toán quản trị

4.1 Phân loại chi phí sản xuất của kế toán quản trị

4.1.1 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

Theo mối quan hệ với mức độ hoạt động có nghĩa là những chi phí này sẽ tăng, giảm như thế nào đối với các mức độ thay đổi của hoạt động kinh doanh. Mục đích của cách phân loại này là cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra và điều tiết chi phí.

Theo cách phân loại này chi phí được phân làm 3 loại:

Biến phí: Là những chi phí thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi, được chia thành biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc. Biến phí thường bao gồm các khoản chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp…

Định phí: Là những khoản chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp của doanh nghiệp. Định phí được chia làm 2 loại là định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc. Định phí thường gồm các khoản như chi phí khấu hao tòa nhà, thiết bị dùng trong tòa nhà,…

Chi phí hỗn hợp: là những chi phí có cả yếu tố cố định và yếu tố biến đổi.

Ở   mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí. Chi phí hỗn hợp thường gồm: chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp…

Cách phân loại này có tác dụng rất lớn trong việc phân tích mối quan hệ chi phí- khối lượng- lợi nhuận, xây dựng các mô hình kế toán chi phí và giúp nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí.

4.1.2 Phân loại chi phí nhằm mục đích ra quyết định

Để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý, ngoài các cách phân loại trên, chi phí còn được phân loại thành chi phí gián tiếp, chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội.

Chi phí trực tiếp: Là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất một loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và hoàn toàn có thể hạch toán, tập hợp trực tiếp cho sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đó. Trên góc độ quản trị doanh nghiệp, chi phí trực tiếp thường mang tính chất có thể tránh được, tức là nó phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạt động cụ thể.

Chi phí gián tiếp: Là chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ nhiều khối lượng khác nhau nên phải tập hợp cho từng đối tượng bằng phương pháp phân bổ gián tiếp. Trên góc độ quản trị doanh nghiệp, chi phí gián tiếp thường mang tính chất không thể tránh được.

Chi phí cơ hội: Là phần lợi nhuận tiềm năng bị từ bỏ khi lựa chọn phương án hoạt động này thay vì một phương án hoạt động khác. Chi phí cơ hội là khoản chi phí không được theo dõi trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng đối với việc ra quyết định. Nhà quản trị cần xem xét các chi phí cơ hội của các phương án khác nhau để đưa ra quyết định lựa chọn phương án đem lại lợi nhuận cao nhất.

4.1.3   Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên BCTC

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.

Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm. Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Nếu sản phẩm chưa được cung ứng trên thị trường thì chi phí sản phẩm sẽ nằm trong giá thành(trị giá vốn) của hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Nếu sản phẩm đã được cung ứng ra thì chi phí sản phẩm trở thành chi phí của giá vốn hàng bán trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Chi phí thời kỳ: Là các chi phí để hoạt động sản xuất kinh doanh trong các chi phí này không tạo nên giá trị của hàng tồn kho mà tham gia xác định kết quả kinh doanh ngay trong kỳ chúng phát sinh, chúng có ảnh hưởng đến lợi nhuận và chúng được phản ánh, ghi nhận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.

4.2 Định mức chi phí và hệ thống dự toán chi phí sản xuất

4.2.1 Định mức chi phí:

Định mức chi phí sản xuất kinh doanh là cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất cho từng đơn vị dự toán. Việc lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh phải căn cứ vào định mức chi phí. Dự toán và định mức có sự khác nhau về phạm vi. Định mức thì tính cho từng đơn vị còn dự toán đựoc lập cho toàn bộ sản lượng sản phẩm cần thiết dự kiến sản xuất trong kỳ. Do vậy, giữa dự toán và định mức chi phí có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu định mức xây dựng không hợp lý, không sát với thực tế thì dự toán lập trên cơ sở đó không có tính khả thi cao, giảm tác dụng kiểm soát thực tế. Chính vì vậy khi xây dựng định mức chi phí sản xuất phải tuân thủ theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định.

Khi xây dựng định mức chi phí sản xuất phải tuân theo nguyên tắc chung là tìm hiểu, xem xét khách quan toàn bộ tình hình thực tế thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh đối với mỗi đơn vị sản phẩm về hiện vật của kỳ trước, đánh giá chất lượng sản phẩm và các vấn đề liên quan đến năng suất và hiệu quả lao động của doanh nghiệp. Sau đó kết hợp với những thay đổi về thị trường như quan hệ cung cầu, nhu cầu đòi hỏi của thị trường.. thay đổi về điều kiện kinh tế kỹ thuật bổ sung định mức chi phí cho phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới.

Như vậy, những gì đã xảy ra và những kết quả đạt được kỳ trước chỉ làm căn cứ để dự đoán tương lai phục vụ cho việc xây dựng định mức sát với điều kiện thực tế hơn. Vì vậy, định mức chi phí là chỉ tiêu phản ánh mức hoạt động hiệu quả cho kỳ dự toán sắp thực hiện. Ở nước ta, từ trước đến nay thông thường các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào định mức kinh tế kỹ thuật của ngành đã được xây dựng và nhà nước phê duyệt làm định mức chi phí cho doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng và giá cả sản phẩm. Muốn sản xuất có hiệu quả các nhà quản trị phải nghiên cứu và xây dựng định mức thực tế cho phù hợp hơn với điều kiện của doanh nghiệp trên cơ sở định mức chung của ngành. Hơn nữa định mức kinh tế kỹ thuật của ngành được xây dựng có thể chưa bao quát được những điều kiện, đặc điểm, kỹ thuật cụ thể của doanh nghiệp. Do đó, để doanh nghiệp có thể dự toán sản xuất kinh doanh hợp lý, sát với điều kiện cụ thể thì cần phải xây dựng định mức chi phí riêng cho doanh nghiệp.

4.2.2 Hệ thống dự toán chi phí sản xuất:

Dự toán là công cụ để lập kế hoạch và kiểm tra được sử dụng rất rộng rãi trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dự toán chi phí sản xuất chiếm một phần công việc không nhỏ trong kế toán quản trị chi phí. Để có thể sử dụng chi phí sản xuất một cách có hiệu quả, doanh nghiệp cần lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh.

Mục đích của dự toán là cụ thể hóa mục tiêu của nhà quản trị, thiết lập các kế hoạch ngắn hạn, dự báo thu nhập từ một kế hoạch định trước, thiết lập kế hoạch đầu tư, triển khai một dự án sản xuất, lập kế hoạch mua, dự báo việc tuyển dụng nhân sự, kế hoạch đào tạo, lập dự toán sản xuất, lập dự toán tài chính, lập dự toán tổng thể.

Dự toán là công cụ của nhà quản lý, chính vì thế đòi hỏi họ phải biết thích ứng dự toán với từng nhu cầu riêng rẽ và với hoàn cảnh cụ thể của từng doanh nghiệp. Vì vậy dự toán có rất nhiều loại khác nhau. Chẳng hạn, người ta có thể triển khai thực hiện kế hoạch theo loại nghiệp vụ, theo các loại nguồn lực khác nhau, theo hoạt động, theo các trung tâm trách nhiệm, theo quá trình...

4.2.2.1 Dự toán sản xuất:

Sản xuất phải đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ, đồng thời phải đảm bảo mức tồn kho sản phẩm tối thiểu cần thiết đảm bảo cho quá trình tiêu thụ liên tục. Mức tồn kho sản phẩm cuối kỳ tùy thuộc chủ yếu vào chu kỳ sản xuất sản phẩm. Chu kỳ sản phẩm càng dài thì mức tồn kho sản phẩm càng lớn và ngược lại.

Dự toán sản phẩm sản xuất = Dự toán sản phẩm tiêu thụ + Dự toán sản phẩm tồn Kho cuối kỳ - Dự toán sản phẩm tồn kho đầu kỳ

4.2.2.2 Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp:

Được lập căn cứ vào nhu cầu sản xuất trong kỳ với lượng và giá định mức của từng loại nguyên vật liệu, cùng với tình hình tồn kho nguyên liệu để xác định chi phí nguyên vật liệu trong kỳ cần dự toán - Xác định lượng nguyên vật liệu cần sử dụng trong kỳ:

Nhu cầu nguyên vật liệu = Nhu cầu sản xuất sản phẩm X Định mức lượng nguyên liệu/sản phẩm

- Xác định dự toán chi phí mua nguyên vật liệu trong kỳ:

Tổng CP mua nguyên vật liệu trong kỳ = ( Nhu cầu nguyên vật liệu sử dụng +  Nguyên vật liệu dự kiến tồn cuối kỳ - Nguyên vật liệu tồn kho đầu kỳ ) X Đơn giá mua

Đối với doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm thì phải dự toán chi phí nguyên vật liệu cho từng sản phẩm.

4.2.2.3 Dự toán chi phí lao động trực tiếp:

Căn cứ vào nhu cầu sản xuất trong kỳ để lập

Tổng CP dự toán lao động trực tiếp = Nhu cầu lượng sản phẩm cần sản xuất trong kỳ + Định mức thời gian lao động trực tiếp bình quân cho 1 sản phẩm X Định mức giá bình quân của 1 giờ lao động trực tiếp

4.2.2.4  Dự toán chi phí sản xuất chung:

Dự toán chi phí sản xuất chung được xây dựng theo định phí và biến phí

Dự toán chi phí sản xuất chung khả biến được lập tỷ lệ với tiêu thức phù hợp được chọn tùy theo mối quan hệ biến động của chi phí, có thể theo giờ công lao động trực tiếp

Dự toán chi phí sản xuất chung khả biến = Dự kiến chi phí sản xuất chung khả biến trong 1 giờ công X Số giờ công lao động trực tiếp

Chi phí sản xuất chung bất biến được tính đều theo thời gian căn cứ vào tỷ lệ chiếm của chi phí sản xuất chung bất biến trong tổng số chi phí sản xuất chung qua sự tổng kết kinh nghiệm thực tế.

 

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

PPhạm Bảo Liên

có ai cho e hỏi là các pp tính giá hàng xk trong pp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kì khác nhau chỗ nào k ạ

Trả lời3 weeks ago

Thông tin bình luận

KKhuất phương thảo

có thể cho e xin đê tài về tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với ạ khuatphuong96@gmail.com

Trả lời3 weeks ago

Thông tin bình luận

NNgọc ANh

Bạn có đề tài nào điểm cao về Tính giá thành trong công ty xây lắp ko? nhwof bạn gửi vào phanngocanh800@gmail.com

Trả lời3 weeks ago

Thông tin bình luận