Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Quản trị
Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
5/5 (3 đánh giá) 2 bình luận

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là khi Việt Nam là thành viên của WTO thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp. Vậy năng lực cạnh tranh là gì? Các cấp độ của nó và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh như thế nào? Hãy đọc bài viết dưới đây để có cái nhìn toàn diện hơn tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp.

Tham khảo thêm các bài viết khác cùng chủ đề:

Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp

Tổng quan về năng lực quản trị tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp
Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp

 

1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1. Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực để thúc đẩy kinh tế phát triển. Để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh như là lựa chọn duy nhất. Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan điểm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là về phạm vi thuật ngữ này. Có thể dẫn ra như sau:

-  Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch”[1].

-  Theo Từ điển tiếng Việt: “Cạnh tranh được hiểu là cố giành phần hơn, phần thắng về phía mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm vào những lợi ích như nhau” [24].

-  Theo từ điển Cornu của Pháp: “Cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ nhằm làm thoả mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”[10].

-  Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”[20]. Từ những cách định nghĩa trên, có thể rút ra, cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành được phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn mục tiêu của mình.

Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?... Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm thuê luận văn.

Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

1.2. Năng lực cạnh tranh

1.2.1. Khái niệm

Cho đến nay, các tài liệu trong nước và trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về năng lực cạnh tranh do có những cách tiếp cận khác nhau. Xin nêu một số cách định nghĩa về năng lực cạnh tranh theo một số cách nhìn nhận:

-  Theo từ điển tiếng Bách khoa toàn thư của Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ” [29]. Năng lực cạnh tranh dựa trên nhiều yếu tố: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng. Ở nhiều nước, các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng trên cơ sở tăng năng lực cạnh tranh.

-  Trong tác phẩm The Competitive Advantage of Nation (Lợi thế cạnh tranh của quốc gia), Michael Porter cũng thừa nhận, không thể đưa ra một định nghĩa tuyệt đối về khái niệm năng lực cạnh tranh. Theo ông, “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”[27].

-  Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”[20].

1.2.2. Các cấp độ cạnh tranh

Cạnh tranh quốc gia:

Sức cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới. Sức cạnh tranh quốc gia được xác định bởi các nhóm nhân tố: Mức độ mở cửa của nền kinh tế; vai trò của chính phủ; tài chính; công nghệ; cơ sở hạ tầng; quản lý nhân lực; lao động, thể chế, …

Cạnh tranh doanh nghiệp:

Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.

Cạnh tranh sản phẩm:

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trường. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng của nó, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, …

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Có thể đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua một số tiêu chí sau: Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: Trình độ tổ chức và quản lý là yếu tố quan trọng hàng đầu. Để đánh giá trình độ tổ chức của doanh nghiệp, người ta  sử dụng những tiêu chí:

-  Hoạt động theo pháp luật;

-  Hoạt động theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng;

-  Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của mọi bộ phận, mọi thành viên.  

-  Có chính sách, chiến lược, mục đích, mục tiêu hoạt động cụ thể;

-  Có tổ chức gọn nhẹ.

Trình độ của đội ngũ lãnh đạo: Đội ngũ lãnh đạo là yếu tố không thể thiếu được của một doanh nghiệp. Trình độ của đội ngũ lãnh đạo được đánh giá qua các tiêu chí:

-  Trình độ tư tưởng, chính trị, đạo đức;

-  Trình độ học vấn;

-  Trình độ văn hoá;

-  Trình độ quản trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp nào có tỷ lệ cán bộ lãnh đạo tốt cao hơn sẽ có năng lực cạnh tranh (về tiêu chí đó) cao hơn.

Tỷ lệ nhân viên, công nhân lành nghề:

Tiêu chí này là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp đạt được chiến lược cao, chi phí thấp, năng suất cao.

Chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật:

Cơ sở vật chất, kỹ thuật là yếu tố rất cơ bản tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất, kỹ thuật bao gồm: nhà xưởng, hệ thống kho tàng, công nghệ sản xuất và quản lý, hệ thống cung cấp năng lượng, hệ thống nước, mạng thông tin. Số sáng kiến, cải tiến, đổi mới hàng năm được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp:

Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh hay yếu. Để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp người ta dùng các tiêu chí chủ yếu sau:

-  Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán gồm các chỉ tiêu: Khả năng thanh toán hiện hành; Khả năng thanh toán nhanh.

-  Cơ cấu vốn và cơ cấu nguồn vốn;

-  Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn gồm các chỉ tiêu: Vòng quay hàng tồn kho; Kỳ thu tiền bình quân; Số vòng quay vốn cố định; Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản.

-  Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả gồm các chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản; Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.

Chất lượng sản phẩm:

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng hàng đầu cấu thành nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm, từ đó cấu thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đánh giá chất lượng của sản phẩm thông qua các chỉ tiêu: thẩm mỹ, an toàn – vệ sinh, kỹ thuật và nhóm chỉ tiêu kinh tế.

Thị phần của doanh nghiệp:

Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển. Thị phần càng lớn chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng, người tiêu dùng ưa chuộng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm cao. Như vậy, thị phần là một tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Chất lượng môi trường sinh thái:

Thế giới đánh giá cao tiêu chí này đối với doanh nghiệp. Để có năng lực cạnh tranh cao, sản phẩm làm ra không được gây ô nhiễm môi trường (trong phạm vi và ngoài phạm vi doanh nghiệp), bao gồm ô nhiễm nguồn không khí, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm sự yên tĩnh.

Giá trị vô hình của doanh nghiệp:

Giá trị vô hình của doanh nghiệp gồm hai bộ phận. Thứ nhất là uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, được phản ánh chủ yếu ở “văn hoá doanh nghiệp”, bao gồm: trang phục, văn hoá ứng xử, hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước, hoạt động từ thiện, kinh doanh minh bạch, … Thứ hai là giá trị của tài sản nhãn hiệu. Những nhãn hiệu lâu đời, có uy tín cao thì giá trị càng cao.

2. Tài liệu tham khảo

  1.  Các Mác (1978), Mác – Ăng Ghen toàn tập, NXB Sự thật, Hà Nội.
  2.  Hồ Diệu (năm 2002), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê.
  3.  PGS-TS. Nguyễn Đăng Dờn, TS. Hoàng Đức, PGS-TS. Trần Huy Hoàng, TS. Trầm Xuân Hương (2005), Tiền tệ Ngân hàng, NXB Thống kê.
  4.  PTS. Vũ Trọng Hùng (2003) – Biên dịch Philip Kotler (năm 2003), Quản trị Marketing, NXB Thống kê
  5. Nguyễn Hữu Huyên (2003), Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, trang 11, NXB Tư pháp.

    17.Trương Công Minh, Trần Tuấn Thạc, Trần Thị Tường Như – Biên dịch Fred R.David - Khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống kê.    

    19.Trần Sửu (2005), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập, NXB Lao động.      

    20.TS. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lao động – Xã hội.    

    23.PGS, TS.Trần Văn Tùng (2004), Cạnh tranh kinh tế: lợi thế cạnh tranh quốc gia và chiến lược cạnh tranh của công ty, NXB Thế giới.    

    24.Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, trang 112, NXB Đà Nẵng.  

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

DĐăng Thu Trà

Em đang làm đề tài " Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế". Ah/chị có tài liệu nào tương tự k cho e xin mẫu tham khảo với ạ.

Trả lời2 weeks ago

Thông tin bình luận

DĐào Ngọc Lan

mình muốm tìm luận văn phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua bài tập hóa học chương oxi-luu huỳnh ai giúp mình mới

Trả lời2 months ago

Thông tin bình luận

Zalo: 096.999.1080