Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Luật
Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền
5/5 (1 đánh giá) 0 bình luận

Kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền trên cơ sở đó nhận thức được nhu cầu, thực tiễn, những quan điểm để tiếp thu vận dụng nó trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

>>>Xem thêm bài viết liên quan :

Cơ sở lý luận về xây dựng và áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp dân sự

Lý luận Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố

Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền

1. Kiểm soát quyền lực là biểu hiện cơ bản của nhà nước pháp quyền

1.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 -1704), Montesquieu (1698 -1755), J.J.Rút-xô (1712 -1778), I.Kant (1724 -1804), Hêghen (1770 -1831).

Hiện nay, trong lý luận có nhiều quan điểm cách tiếp cận khác nhau về khái niệm và các yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền. Cụ thể các quan điểm thường nhấn mạnh đến một trong những yếu tố cơ bản sau đây của nhà nước pháp quyền: tính tối cao của luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của chính nhà nước, cơ chế phân chia quyền lực, kìm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực: Lập pháp, Hành pháp, tư pháp, dân chủ, xã hội công dân, quyền con người....Theo PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế Nhà nước pháp quyền được định nghĩa như sau:

Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao động khoa học hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người [14, tr.174].

Những giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lập hiến. Sự hiện diện của Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân chủ và Nhà nước pháp quyền, bởi vì Hiến pháp thể hiện ý chí của mình, là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp của nhà nước.

Hiến pháp là văn bản khế ước của nhân dân, được đa số nhân dân thông qua theo những trình tự đặc biệt. Như vậy, chủ nghĩa lập hiến đồng nghĩa với việc coi nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, là chủ thể của quyền lực nhà nước. Làm theo Hiến pháp là tuân theo ý chí gốc rễ của chủ thể quyền lực, làm trái hoặc khác với Hiến pháp là xâm phạm chủ quyền của nhân dân.

Nhà nước pháp quyền trước hết là nhà nước được tạo nên bằng ý chí chung của nhân dân, nhằm bảo vệ tự do tài sản của mỗi thành viên của nó. Mỗi thành viên tuân thủ ý chí chung (được nhà nước thể hóa thành pháp luật) cũng tức là tuân thủ ý chí của riêng mình mà vẫn tự do. Quá trình chuyển nhà nước từ cá nhân vua chúa, từ ý chí tối cao thành nhà nước của nhân dân trở thành quá trình xóa bỏ các chế độ độc đoán, chuyên quyền và tách nhà nước ra khỏi sự nhà thờ, tách xã hội dân sự ra khỏi xã hội thần dân. Nhà nước không có mục đích tự thân nào, mà chỉ là công cụ phục vụ nhân dân, phục vụ yêu cầu phát triển của xã hội. Nếu ở thời cổ đại, hình thức nhà nước hỗn hợp (kết hợp ba hình thức quân chủ, quý tộc và cộng hòa) được coi là thích hợp, thì ở thời cận đại và hiện đại hình thức cộng hòa dân chủ được coi là thích hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.

Sự ra đời của Nhà nước pháp quyền đồng thời phủ nhận nhà nước chuyên chế, cực quyền, độc quyền phát xít. Tiêu chí đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà toàn bộ quyền lực của nó thuộc về nhân dân và trở thành vấn đề mang tính pháp lý. Đây thực sự là một bước tiến lớn lao trong lịch sử chính trị của nhân loại. Trong các nhà nước không pháp quyền, nhân dân không chỉ là chủ thể, mà chỉ là khách thể của quyền lực. Bởi vì, chỉ khi nào có quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì nhân dân mới có quyền kiểm tra và giám sát quyền lực đó. Hoặc nói khác đi, sở dĩ đặt ra vấn đề phải đặt nhà nước dưới sự giám sát của nhân dân vì đó là sự giám sát của người chủ quyền lực. Pháp luật không chỉ có mục đích tự thân mà chỉ là công cụ thực hiện quyền lực. Do đó, nếu Chính phủ sai thì nhân dân phải có thái độ, kể cả thay đổi chính phủ, pháp luật không phù hợp với Hiến pháp thì phải đình chỉ hiệu lực thi hành

Thứ hai, pháp luật giữ vị trí chi phối và có hiệu lực pháp lý tối thượng trong xã hội, Nhà nước cũng phải chịu sự ràng buộc của pháp luật.

Với sự ra đời của học thuyết Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật đã có sự thay đổi căn bản. Pháp luật do nhà nước ban hành giữ vị trí và có hiệu lực thống trị không chỉ đối với xã hội mà còn đối với cả nhà nước. Đây là sự kết hợp giữa tổ chức quyền lực của xã hội và giai cấp cầm quyền với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, với công lý và công bằng. Quyền lực nhà nước không chỉ dựa trên công bằng thì chỉ là bạo lực thô bạo. Công lý và lẽ phải mà không có sự đảm bảo của quyền lực nhà nước thì bất lực. Nhà nước ban hành pháp luật không chỉ để tổ chức và quản lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý bản thân mình. Pháp luật trở thành công cụ chế ước, quy định kiểm tra, giám sát tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước. Nhà nước pháp quyền tự đặt mình dưới pháp luật, chứ không đứng trên và đứng ngoài pháp luật.

Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và phát triển xã hội mà còn là công cụ duy trì sự tồn tại của chính Nhà nước. Chức năng, quyền hạn của nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ pháp quyền. Đặt mình trong chế độ pháp quyền, nhà nước là mạnh nhất, ngoài lĩnh vực pháp quyền, nhà nước luôn luôn nằm trong nguy cơ của sự chuyên quyền và mất dân chủ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xây dựng trên cơ sở lý trí, hợp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm pháp lý. Trong Nhà nước pháp quyền, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân lại được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Vượt quá giới hạn cho phép, nhà nước sẽ thoái hóa, biến chất. Với nguyên tắc pháp luật chi phối, mối quan hệ giữa công dân và nhà nước cũng có sự thay đổi. Nhà nước và công dân đều có quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật.

Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được luật hóa, là tiếng nói của công lý và lý trí. Pháp luật là một thực thể hay một đại lượng chung có tính phổ biến bảo đảm sự tự do và bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội. Trong quy phạm của xã hội là tính tất yếu được hình thành qua vô số ngẫu nhiên. Pháp luật chứa đựng những giá trị ổn định, chuẩn mực hóa những quan hệ xã hội và có các chức năng đặc biệt tổ chức, bảo vệ, trọng tài. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật là quản lý bằng

ý  chí phổ biến của nhân dân được thể chế hóa, chứ không phải bằng chỉ lệnh, luật lệnh của cá nhân tùy tiện. Nhờ pháp luật mà cái vốn là của một giai cấp trở thành của một toàn xã hội. Nhà nước và công dân đều tuân thủ pháp luật có nghĩa là cũng tuân theo những quy tắc đã đặt ra. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền là ý chí của nhân dân được thể chế hóa là một tiến bộ lịch sử. Nó đề cao giá trị của con người trong mối quan hệ với nhà nước. Về hình thức, pháp luật trong nhà nước pháp quyền chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội và nhà nước. Về nội dung, pháp luật thể hiện và đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển. Về cấu trúc, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là một thể thống nhất và có thứ bậc, trong đó Hiến pháp giữ vị trí cao nhất chi phối toàn bộ các đạo luật và các quy định dưới luật.

Quản lý xã hội bằng pháp luật và nhà nước tự đặt mình dưới pháp luật là một tiến bộ, một giá trị xã hội. Với nguyên tắc pháp luật thống trị, tính ổn định về tổ chức và hoạt động của nhà nước được duy trì, tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của các chính sách được bảo đảm, quan hệ nhà nước - công dân chuyển từ quan hệ quyền lực sang quan hệ pháp lý, nhà nước ban hành luật, nhưng sau khi luật được ban hành thì chính nhà nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của đạo luật đó. Đó là quan niệm có tính nền tảng của học thuyết về nhà nước pháp quyền.

Quan niệm cho rằng bản thân nhà nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật có rất nhiều yêu cầu nhưng về cơ bản có thể tóm tắt lại rằng, Nhà nước pháp quyền là tính tối tối cao của pháp luật, nó là tối thượng đối với mọi người, kể cả các quan chức, người lãnh đạo.Tuy nhiên, quan điểm đặt nhà nước và các quan chức của nhà nước dưới sự điều chỉnh của pháp luật sẽ không có ý nghĩa nếu không có cách thức gì để kiểm tra tính hợp pháp và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan và viên chức nhà nước. Chính vì vậy, cơ chế bảo hiểm đã ra đời, các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được thiết kế và áp dụng đối với tất cả các nhánh quyền lực.

Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc phân quyền và yêu cầu về sự độc lập của tư pháp. Có thể nói rằng, sự độc lập của hoạt động tư pháp là một trong những yếu tố cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Tòa án là cơ quan áp dụng pháp luật khi mà pháp luật được coi là có vị trí tối thượng, phán xét về khả năng vi phạm các quyền công dân từ phía người khác hoặc từ phía nhà nước, lại cũng là nơi phán xét các quyết định của các cơ quan hành pháp nếu có biểu hiện vi phạm quyền công dân hoặc thẩm quyền của các cơ quan khác. Nguyên tắc phân quyền nói rõ là quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền tư pháp thuộc về Tòa án. Mặt khác, cơ chế cho phép Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với các thành viên Chính phủ để lập Chính phủ mới được bổ sung bởi các cơ chế có tính đối trọng là quyền của Chính phủ giải tán Quốc hội. sự độc lập của Tòa án xuất phát từ yêu cầu bảo đảm để không có sự can thiệp từ phía cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, bảo đảm để công chúng có được lòng tin vào sự không thiên vị của các thẩm phán khi họ giải quyết các việc tư của dân.

Thứ tư, pháp luật phải được áp dụng công bằng, nhất quán, phải bảo đảm tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời. Tuy nhiên, ý nghĩa của yêu cầu công bằng là hết sức rõ ràng. Lòng tin của công chúng vào Nhà nước pháp quyền chỉ có thể được duy trì nếu nhận thức về tính công bằng của pháp luật đủ sâu rộng đến mức không có chỗ cho sự thiên vị dựa trên những tiêu chí tôn giáo, chủng tộc. Yêu cầu về tính minh bạch có hai nội dung: thứ nhất đòi hỏi pháp luật phải dễ hiểu và được công bố rộng rãi để mọi người được cảnh báo trước về những hành động có thể phải chịu chế tài của nhà nước, hoặc có thể thực hiện các quyền của mình theo các cách thức thích hợp và để cho người khác có thể tôn trọng các quyền của họ sau khi tìm hiểu những quy định có liên quan.Yêu cầu về tính minh bạch đòi hỏi trong mọi hoạt động của mình, Chính phủ phải tuân thủ pháp luật mà trước đó đã được thông qua và công bố. Những quy định pháp luật phải cho phép dự báo về các thức mà Chính phủ sẽ sử dụng để thực thi quyền cưỡng chế của mình trong những hoàn cảnh nhất định. Nội dung thứ hai của yêu cầu minh bạch liên quan đến vấn đề thủ tục. Quy trình làm luật cũng phải được

công bố công khai. Nếu luật pháp được công bố chỉ để các quan chức Chính phủ tuân thủ, thì rất có thể sẽ đi đến chỗ coi nhẹ tính hợp lý và sự cần thiết ban hành văn bản. Ngay cả khi đã rõ về sự cần thiết ban hành một đạo luật, nếu không công khai hóa quy trình ban hành luật và không tạo điều kiện để những người có thể bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng luật tham gia ý kiến về dự luật thì sự ủng hộ của dân chúng dành cho văn bản luật đó cũng sẽ bị giảm sút.

Thứ năm, tôn trọng và bảo vệ quyền công dân và quyền con người.

Đây là giá trị của mọi giá trị tư tưởng về Nhà nước pháp quyền mà tư duy nhân loại đã đạt đến. Với sự ra đời của học thuyết về Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền tư sản trong hiện thực, lần đầu tiên trong lịch sử con người đã bước từ địa vị nô lệ trong xã hội thần dân sang địa vị người công dân trong xã hội công dân. Người công dân trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền là con người, mà các quyền cơ bản, thiêng liêng nhất của nó như quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền sở hữu tài sản được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật. Về lý thuyết, mỗi cá nhân có thể phát triển bình đẳng và tự do trước pháp luật, có đủ cơ hội pháp lý để phát huy mọi khả năng của mình. Nhà nước cam kết, tôn trọng trên thực tế và bằng pháp luật các quyền, lợi ích hợp pháp, danh dự và nhân phẩm của công dân. Con người được sống trong công lý và lẽ phải. Pháp luật là phương tiện để con người đạt được tới tự do.

Trong Nhà nước pháp quyền, người công dân có quyền kiểm tra và giám sát hoạt động của nhà nước, kể cả quyền thay đổi nhà nước khi nó xâm phạm đến các quyền và lợi ích của nhân dân và xã hội. Không gian và xã hội cho sự sinh tồn và hoạt động của con người được mở rộng. Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật nên nó có đặc điểm là hoạt động công khai và dân chủ. Công dân có quyền và nghĩa vụ chống lại sự xâm phạm hay can thiệp tùy tiện, trái pháp luật của nhà nước. Điều này khác với các nhà nước không phải là Nhà nước pháp quyền ở đó, người dân phải làm các nghĩa vụ với nhà nước, còn nhà nước thì không. Nó khác với nhà nước khác còn ở chỗ nó không thể ban hay thu lại cái không thể ban phát là tự do cho người dân.

Với sự ra đời của Nhà nước pháp quyền, nhà nước trở về đúng vị trí của mình trong mối quan hệ với xã hội công dân. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được xác lập về mặt pháp lý, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Các quyền đó được mở rộng và nâng cao bao nhiêu thì quyền hạn nhà nước bị giới hạn và bị kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu. Ở  Việt Nam hiện nay, Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta coi là nhiệm vụ quan trọng và đã được Hiến pháp ghi nhận. Nhiệm vụ đó được Đảng đặt trong định hướng chung của việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII (tháng 01/1994) Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết phải xây dựng Nhà Nước pháp quyền như điều kiện không thể thiếu để có nền dân chủ thực sự vì nhân dân. Liên tiếp qua các kì đại hội gần đây (Đại hội IX. Đại hội X, Đại hội XI. Đại hội XII), Đảng ta tiếp tục coi nhiệm vụ xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong các văn kiện của Đảng đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII nêu vấn đề: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN”. “Xây dựng” và “hoàn thiện” Nhà nước pháp quyền đều là những nhiệm vụ quan trọng. Đảng ta đã xác định đi vào chiều sâu của nhiệm vụ này. Quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN sẽ là quá trình không ngừng nâng cao nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền nói chung và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng. Theo tinh thần đó, Đảng, Nhà nước sẽ chú trọng rà soát lại toàn bộ hệ thống thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách và môi trường, điều kiện để đạt được mục đích thiết lập bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, bảo đảm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân, vừa bảo đảm là công cụ quan trọng nhất để giữ vững định hướng chế độ, vừa phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới. Quá trình hoàn thiện sẽ bổ khuyết những gì còn thiếu mà chúng ta đã xây dựng, thay thế những gì đã có nhưng không còn phù hợp. Đây không phải là sự chuyển hướng trong cách tiếp cận, mà là sự nhấn mạnh của Đảng về những nhiệm vụ cần làm đối với vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong thời gian tiếp theo.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhìn nhận thẳng thắn, đánh giá đúng những ưu điểm và nghiêm khắc chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong thời gian qua, đồng thời xác định những nguyên nhân cốt lõi nhất của hạn chế, khuyết điểm. Theo đó, những tồn tại, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta trong thời gian qua được Đảng ta chỉ ra bao gồm cả những vấn đề thuộc về thể chế, cơ chế, chính sách; cả về tổ chức và hoạt động; cả về yếu tố con người.

Về nguyên nhân của những hạn chế, Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng đã xác định vấn đề cơ bản nhất: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới đối với nước ta. Sự phân định giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn nhiều điểm chưa được chế định rõ và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Tổ chức thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN chưa nghiêm”. Nếu nguyên nhân thứ nhất là khách quan, thì nguyên nhân thứ hai là chủ quan, trong đó tập trung trọng tâm vào vai trò của Đảng. Cách nhìn nhận, đánh giá như vậy cho thấy, Đảng ta đã sẵn sàng cho một sự “chuyển mình” cả về nhận thức và hành động trong thời gian tới, nhằm tháo gỡ, minh bạch, chính xác hóa mối quan hệ Đảng - Nhà nước. Đây cũng chính là then chốt cho sự hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.

Vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN được Đại hội XII của Đảng khẳng định sâu sắc hơn. So với Báo cáo chính trị Đại hội XI, Báo cáo chính trị Đại hội XII đã dành riêng một ý trong phần phương hướng, nhiệm vụ để khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”. Tuy đây là sự tiếp tục quan điểm nhất quán của Đảng ta, song việc nhấn mạnh này trong văn kiện Đại hội đã cho thấy rõ quyết tâm chính trị của toàn Đảng. Đảng ta chỉ rõ: “Trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn. Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa-xã hội”.

Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị là một trong tám mối quan hệ lớn cần nắm vững và tập trung giải quyết đã được Đảng ta xác định. Trong đổi mới chính trị thì nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm, có vai trò chi phối, quyết định đến các nhiệm vụ khác và đến việc giải quyết mối quan hệ lớn này. Có thể nói xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là chủ trương đường lối có tính chiến lược mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra. Là đòi hỏi tất yếu khách quan của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân.

1.2. Kiểm soát quyền lực nhà nước là biểu hiện cơ bản của nhà nước pháp quyền

1.2.1. Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước

Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước: là hoạt động có chủ đích của nhà nước và xã hội, với tổng thể những phương tiện tổ chức và pháp lý thông qua các hình thức kiểm soát bên trong, kiểm soát bên ngoài nhằm hạn chế những nguy cơ sai phạm cũng như hành vị lộng quyền của cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, khoa học, hiệu lực và hiệu quả.

Lý thuyết kiểm soát quyền lực nhà nước được thiết lập đầu tiên bởi các nhà tư tưởng chính trị - pháp lý, đó là của Aristotle, J. Locke, S.L. Montesquieu và J.J. Rousseau, tạo thành học thuyết được gọi là Chủ nghĩa Hiến pháp/Chủ nghĩa hợp hiến mà cái cốt lõi căn bản của học thuyết là sự giới hạn quyền lực nhà nước nhằm chống lại chế độ chuyên chế phong kiến, và bảo vệ nhân quyền.

Ở   Việt Nam, các bản Hiến pháp đều nhất quán khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Tại Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ: “Tất cả quyền bính trong nước ta là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo giai cấp tôn giáo” [16, Điều 1]. Tư tưởng nhất quán này đều được thể hiện qua bản hiến Pháp 1959, Hiến pháp 1980, và Hiến pháp 1992. Tại Hiến pháp 1992 thì:

Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, Nhân dân sử dụng quyền lực thông qua Quốc Hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân [19, Điều 2, 6]. Hiến pháp năm 2013 đã được thông qua theo một quy trình dân chủ, bảo đảm việc lấy ý kiến rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân, thể hiện ý chí của đông đảo nhân dân lao động. Điều đó khẳng định hơn nữa quyền xây dựng Hiến pháp trước hết thuộc về nhân dân.

Một điểm mới về quyền lực trong Hiến pháp năm 2013 đó là việc nhận thức về chủ thể của quyền lập hiến. Cụ thể, nếu như trong Hiến pháp năm 1992 tại Điều 83  có quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” thì sang Hiến pháp năm 2013 nội dung này đã được quy định như sau: “... Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp...” [16, Điều 69]. Quốc hội không phải là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, Quốc hội chỉ là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, Nhân dân mới là chủ thể tối cao của quyền lập hiến. Một điểm mới nữa có thể thấy của Hiến pháp mới được ban hành, Điều 6 ghi nhận “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.

Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được thể hiện bởi các cơ quan trong bộ máy, với những con người cụ thể trong bộ máy ấy. Vì vậy việc thực thi quyền lực cụ thể phụ thuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước và con người trong bộ máy ấy. Nếu như người cầm quyền được trao quyền không biết thực thi quyền lực cho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích vụ lợi thì sức mạnh quyền lực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội. Vì thế muốn có một xã hội tốt đẹp, quyền tự do con người được đề cao thì phải có cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát hoạt động của công chức, viên chức nhà nước. Đây là một điều tất yếu trong tổ chức và hoạt động của một nước dân chủ, kể cả trong việc đi lên xây dựng nhà nước pháp quyền của nước ta. Hiến pháp Việt Nam quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [16, Điều 2]. Vậy,khái niệm “kiểm soát” giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nó có sự khác biệt gì so với giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Chúng ta đều biết, trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước luôn phải tiến hành các hoạt động “giám sát”. Thông thường, giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống. Trong bộ máy nhà nước, giám sát thường thể hiện chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động của bộ máy nhà nước hoặc của Tòa án nhân dân; các tổ chức xã hội và công dân đối với hoạt động quản lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước.

Chẳng hạn, theo điều 69 của Hiến pháp năm 2013 thì: Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân [16, Điều 74]; Hội đồng dân tộc thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số [16, Điều 75]; Uỷ ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định [16, Điều 76]; Đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri [16, Điều 79]; Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân [16, Điều 113].

Ngoài việc giám sát, các cơ quan nhà nước còn phải tiến hành “thanh tra”, “kiểm tra” việc thực hiện quyền lực nhà nước. Hiến pháp quy định: Chính phủ tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên [16, Điều 96]; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc [16, Điều 99]; Chính quyền địa phương chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên [16, Điều 112].

Như vậy, “thanh tra” là sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định nhằm phát hiện, ngăn chặn pháp luật trái với quy định. Thanh tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới (mang tính trực thuộc). Còn “kiểm tra” là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Đây là hoạt động của các chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc). Chẳng hạn, kiểm tra của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước hoặc kiểm tra của các cơ quan, nhân viên nhà nước có thẩm quyền nhằm xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan kiểm tra ở Việt Nam, “kiểm sát” là hoạt động xem xét, đánh giá của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Chẳng hạn, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp.Còn “kiểm soát” được cho là xem xét. Đánh giá, theo dõi nhằm ngăn chặn những điều trái với quy định.

Như vậy, về cơ bản, thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm soát có nghĩa như nhau, đó là xem xét, đánh giá hoạt động của các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước để Hiến pháp, pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ, nhưng chúng khác nhau về chủ thể thực hiện, về nội dung, hình thức, phạm và đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá. So với thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát thì kiểm soát có phạm vi xem xét, đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn, nó bao hàm cả việc giám sát, thanh tra, kiểm tra, theo dõi đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá của kiểm soát là tất cả các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước. Nội dung kiểm soát bao gồm việc tổ chức và việc thực hiện đối với cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vậy.

1.2.2. Biểu hiện của kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền

-  Kiểm soát quyền lực của “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân, vì dân, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm soát quyền lực trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ

Hiến pháp: Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến pháp. Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là Đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân. Những quan điểm lớn, những nội dung cơ bản của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân.

- Kiểm soát quyền lực của một nhà nước đơn nhất, nhiều yếu tố tập quyền, được xây dựng trên nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quyền lực nhà nước ở nước ta là quyền lực thống nhất. Sự thống nhất đó không phải là sự tập trung quyền lực cao độ vào một nhánh quyền lực nào theo kiểu phân lập quyền lực mà là sự thống nhất ở mục tiêu chung là phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc. Một trong những quan điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quan điểm về quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sở phân công và phân phối trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có thể hiểu rằng, sự thống nhất là nền tảng, sự phân công phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực nhà nước.

  • Dựa trên sự bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhâṇ, tôn trọng, bảo vệ và b ảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

- Thiết lập trong cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái (mâu thuẫn) với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta. Trong ý nghĩa ấy, Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

2. Vai trò, ý nghĩa của kiểm soát quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của Nhà nước mà quyền lực của nhân dân, được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền. Nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình mà lại giao cho Nhà nước thay mình thực hiện, tuy nhiên khi ủy quyền cho Nhà nước, quyền lực nhà nước lại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu (từ của nhân dân là số đông chuyển sang số ít của một nhóm người hoặc của một người). C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước.

Quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những con người cụ thể thực thi. Mà hành động của con người thì luôn luôn chịu sự tác động của các loại tình cảm và dục vọng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất. Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn. Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền.mặt khác quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm xác định được một cách chính xác, để có thể giao quyền một cách cụ thể.

Chính vì vậy mà kiểm soát quyền lực nhà nước có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lặp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, làm cho hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước bị hạn chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta coi là nhiệm vụ quan trọng và đã được Hiến pháp ghi nhận. Nhiệm vụ đó được Đảng đặt trong định hướng chung của việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

Vị trí, vai trò của kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ý nghĩa lớn trong việc khẳng tính thống nhất về bản chất của quyền lực Nhà nước ở nước ta. Quyền lực Nhà nước là quyền lực thống nhất của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cụ thể hơn, quyền lực Nhà nước đó thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Bản chất Hiến định của Nhà nước ta là như vậy. Nhưng để duy trì được sự thống nhất về bản chất cũng như sự thống nhất về mục tiêu, định hướng của quyền lực Nhà nước là giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của quyền lực Nhà nước thì phải luôn bảo đảm cho quyền lực Nhà nước ở trong quỹ đạo nhất định. Vì vậy, phải có giám sát, thiếu giám sát sẽ có nguy cơ quyền lực Nhà nước đi chệch khỏi quỹ đạo về bản chất giai cấp. Cho nên, để đạt được các mục tiêu mà quyền lực Nhà nước của chúng ta phải phụng sự thì nhất thiết phải duy trì giám sát, phải có cơ chế giám sát hữu hiệu.

Vai trò trong việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước. Nếu trước đây, quyền lực Nhà nước phong kiến là quyền lực tập trung trong tay vua chúa, không có sự phân chia nào thì trong Nhà nước hiện đại, việc phân công, phân quyền là một trong những phương thức quan trọng để thực hiện quyền lực Nhà nước. Hiện nay, chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định sự hiện diện của việc phân quyền ở những mức độ nhất định trong các Nhà nước hiện đại. Ở nước ta, chúng ta đã có công thức hoàn chỉnh trong tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước. Đó là sự phân công giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở phối hợp để bảo đảm quyền lực Nhà nước thống nhất. Đã là phân công quyền lực thì phải thấy được hai mặt của nó: phân công và phối hợp.

Về sự phân công, chúng ta xác định trong bộ máy Nhà nước có quyền lập pháp, hoạt động lập pháp, có quyền hành pháp và hoạt động hành pháp, có quyền tư pháp và hoạt động tư pháp. Mỗi thứ quyền đó và mỗi phạm vi hoạt động của quyền lực Nhà nước có những đặc điểm và đòi hỏi riêng, nhiệm vụ riêng. Nếu tất cả các quyền lực đó trong phạm vi của mình, đều thực hiện đúng các mục tiêu thì sẽ tạo nên hiệu quả hoạt động chung của bộ máy Nhà nước và của việc thực hiện quyền lực Nhà nước. Khi đã có sự phân công thì phải theo dõi, kiểm tra bảo đảm cho các cơ quan đó làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, không vượt ra khỏi phạm vi, thẩm quyền, tính chất và chức năng được xác định. Ngoài sự phân công như trên còn phải kể đến vấn đề phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương.

Sự phân cấp quản lý này cũng cần được thực hiện một cách hợp lý, sao cho trên không can thiệp sai trái xuống dưới, dưới không vượt quyền, thực hiện đúng thẩm quyền của mình trong sự chủ động tối đa. Vì thế, mọi sự phân công, phân quyền, phân cấp đều phải gắn liền với sự kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực. Có thể nói hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước là một hoạt động tất yếu trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm để duy trì bản chất, định hướng chung thể hiện qua nhiệm vụ chung của quyền lực Nhà nước và để bảo đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện một cách khoa học, hiệu quả. Xã hội càng phát triển, quá trình dân chủ hóa trong xã hội càng được mở rộng thì yêu cầu kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước càng cao. Điều này lý giải bởi sự tăng cường của phạm vi tác động của quyền lực, bởi tính phức tạp trong tổ chức và thực hiện quyền lực, bởi sự đan xen, giao thoa và mâu thuẫn trong việc sử dụng quyền lực.

3. Các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền

Cơ chế là một thuật ngữ có thể hiểu theo nhiều nghĩa, tùy vào hoàn cảnh và lĩnh vực. Theo từ điển tiếng Việt: “Cơ chế là cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”. Theo quan điểm của GS.TS triết học Phạm Ngọc Quang: “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liên kết với nhau theo một logic nhất định, nhờ vậy mục tiêu được thực hiện”.

Vì vậy, tác giả cho rằng, theo nghĩa chung nhất thì cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu là phương thức, quy trình, quy định và các thiết chế có liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước, gắn kết chặt chẽ với nhau hợp thành một chỉnh thể, thông qua đó việc kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện, nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của nhà nước, cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng các quy định của Hiến pháp, pháp luật, đúng mục đích mong muốn và có hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước luôn gắn với một chủ thể, đối tượng nhất định với nội dung và hình thức khác nhau. Thực chất của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta là tổng hợp các công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, của các cơ quan trong hệ thống chính trị và của nhân dân

Cụ thể:

  •  Cơ chế giám sát của Đảng
  •  Cơ chế giám sát tối cao của Quốc Hội
  •  Cơ chế giám sát của chính phủ
  •  Cơ chế giám sát của TAND, VKSND
  •  Cơ chế giám sát của MTTQ
  •  Cơ chế giám sát của chính quyền địa phương (UBND, HĐND)
  •  Cơ chế giám sát của Nhân dân

Quá trình kiểm tra, giám sát được thể hiện bằng các quy định của Đảng Báo cáo chính trị đại hội IX chỉ rõ lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra của Chính phủ và các cơ quan hành pháp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, theo đúng chức năng và thẩm quyền của các cơ quan đó. Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy, của Ủy ban kiểm tra các cấp tập trung vào các nội dung chủ yếu: Thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và qui chế làm việc, củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên [17, tr. 146]. Có thể nói, sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển của Đảng ta về công tác kiểm tra, kiểm soát thể hiện ở mấy điểm chủ yếu sau:

Một là, Đảng ta đã cụ thể hóa rõ hơn, đầy đủ hơn vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra - đã xác định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng; một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Có lãnh đạo thì phải có kiểm tra. Lãnh đạo cũng có nghĩa là kiểm tra. Công tác kiểm tra là của toàn Đảng, các cấp ủy Đảng và người đứng đầu cấp ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.

Hai là, xác định rõ ràng và cụ thể hóa nội dung, nhiệm vụ kiểm tra của cấp ủy và của Ủy ban kiểm tra. Trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng, Đảng ta đều có sự sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung mới, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Việc xác định chủ thể, khách thể kiểm tra trong từng nhiệm vụ cũng rõ ràng hơn. Điều này có ý nghĩa thiết thực - khắc phục được tình trạng buông lỏng, khoán trắng, thiếu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra của một số cấp ủy. Việc Ủy ban kiểm tra các cấp chuyển từ kiểm tra chấp hành sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đã khắc phục được tình trạng kiểm tra tràn lan, không trúng đối tượng, thiếu trọng điểm nên kém hiệu quả. Nhiều trường hợp kết luận của kiểm tra chấp hành không nói lên đúng thực trạng của tình hình vi phạm, tiêu cực trong các tổ chức đảng.

Nhờ sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà công tác kiểm tra của Đảng ta trong gần 74 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đặc biệt trong hơn một thập niên đổi mới, công tác kiểm tra của Đảng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện, bảo vệ đường lối, chính sách, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Các tổ chức đảng đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra. Nhiều cấp ủy đã quan tâm lãnh đạo công tác kiểm tra, xây dựng chương trình kế hoạch và trực tiếp kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới theo quy định của Điều lệ Đảng, bước đầu có kết quả thiết thực.

3.1. Chủ thể, đối tượng, nội dung của kiểm soát quyền lực nhà nước

Kiểm soát quyền lực nhà nước luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi: ai (người, hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và đối tượng nào sẽ là đối tượng chịu tác động của kiểm soát quyền lực nhà nước.

Giám sát được tiến hành bởi chủ thể là:

-   Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay nhiều cơ quan nhà

nước khác. Ở nước ta đó là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (HĐND) đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương và còn là hoạt động giám sát của Tòa án đối với bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét xử. Các phương pháp, cách thức mà loại hình giám sát này áp dụng luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước.

-   Ngoài ra chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước còn.Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước (còn gọi là giám sát mang tính nhân dân) bao gồm các hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, thanh tra nhân dân và công dân hay còn gọi là Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước (giám sát mang tính nhân dân

3.1.1. Kiểm tra của Đảng

Công tác kiểm tra của Đảng là toàn diện, kiểm tra công việc, kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên. Trong bộ máy nhà nước ta ở tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến cơ sở hầu hết các chức vụ quan trọng đều do đảng viên đảm nhận. Trong quá trình lãnh đạo của Đảng được chia thành ba khâu chủ yếu: ra quyết định, tổ chức thực hiện quản lý và kiểm tra sự thực hiện. Kiểm tra nhằm phát hiện ưu, khuyết điểm, uốn nắn, bổ sung hoàn chỉnh quyết định, hoàn thiện quy trình lãnh đạo, giáo dục và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tạo nên sự thống nhất giữa ý chí và hành động.

Công tác kiểm tra của Đảng: là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên, hướng vào việc xây dựng và thực hiện các quyết định, giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt và nội bộ Đảng, hoàn thiện quy trình lãnh đạo giữ vững kỷ luật với mục đích bảo đảo cho các quyết định đã đề ra được thực hiện nghiêm túc và có kết quả cao.

Về chủ thể: Công tác kiểm tra của Đảng: Công tác kiểm tra là của toàn đảng trong đó nổi bật hai chủ thể cấp ủy và Ủy ban kiểm tra. Ngoài ra còn có các chủ thể khác là các ban tham mưu của cấp ủy, cá nhân đảng viên... mỗi chủ thể có khách thể và nội dung kiểm tra riêng.

Về đối tượng: Kiểm tra mọi tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vị lãnh đạo và quản lý của cấp ủy trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp và đảng viên thuộc diện cấp ủy mình quản lý, nhất là cán bộ tham gia các cương vị chủ chốt hoặc được giao các nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước ở các địa bàn trọng điểm dễ phát sinh vi phạm.

Thực tế các tổ chức đảng vừa là chủ thể kiểm tra (có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra) vừa là đối tượng kiểm tra (chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên) gồm có: chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong Đảng bộ bộ phận) đảng ủy bộ phận, Đảng ủy cơ sở, cấp ủy, Ban thường vụ cấp ủy các cấp, Ủy ban kiểm tra các ban đảng, văn phòng cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn).

Về nội dung kiểm tra: Kiểm tra việc chấp hành cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên và của cấp mình về mọi lĩnh vực hoạt động. Kiểm tra việc ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp mình và cấp dưới. Các nguyên tắc tổ chức của Đảng trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc. Gìn giữ đoàn kết nội bộ, giáo dục rèn luyện nâng cao phẩm chất cán bộ đảng viên. Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Việc thực hiện chính sách và pháp luật của nhà nước. Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và thực tế của Đảng bộ mà cấp ủy lựa chọn và quyết định nội dung kiểm tra cho phù hợp.

Cho đến nay công tác kiểm tra của Đảng phải tập trung giải quyết những vấn đề còn nan giải, nổi cộm trong bộ máy nhà nước ta đó là:

Khắc phục bệnh quan liêu, xa dân, xa cấp dưới, xa cơ sở, ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng, xảy ra trong bộ máy nhà nước, nhất là đảng viên có chức có quyền; kiên quyết loại bỏ tình trạng đảng viên và tổ chức đảng coi thường pháp luật, đứng trên pháp luật, hạn chế tệ tranh giành quyền lực phe cánh, cục bộ địa phương trong Đảng hiện nay dẫn đến mất đoàn kết nghiêm trọng trong Đảng và Nhà nước. Đẩy lùi bệnh hình thức, phô trương lãng phí làm thất thoát công quỹ tổn hại đến lợi ích của nhân dân, làm tha hóa đạo đức công chức góp phần rèn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ công chức vững về chính trị, giỏi về chuyên môn. Có như vậy mới phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững bản chất cách mạng của một nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân.

3.1.2. Giám sát tối cao của Quốc hội

Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Quốc hội do vị trí vai trò của quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên hoạt động giám sát của Quốc hội có tính chất là giám sát tối cao; như vậy:

Chủ thể hoạt động giám sát tối cao là của Quốc hội; Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu và đại biểu Quốc hội nhằm theo dõi, xem xét kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong các văn bản pháp luật, trong hoạt động của chủ tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC và toàn bộ hoạt động của nhà nước nhằm đảm bảo sự tuân thủ hiến pháp, pháp luật và hiệu lực tham gia hoạt động của các cơ quan này. Xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật, kịp thời bổ sung sửa đổi hoàn chỉnh hiến pháp, pháp luật.

Đối tượng chịu giám sát tối cao là toàn bộ hoạt động của nhà nước, mà trước hết là: Chủ Tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Chủ tịch Quốc hội, UBTVQH.

Nội dung:

Một là, theo dõi, xem xét, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, TANDTC và VKSNDTC.

Hai là, xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp và luật bằng các chế tài bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ do Quốc hội bầu và phê chuẩn trong bộ máy nhà nước, đình chỉ, bãi bỏ các văn bản trái với hiến pháp, luật và ra các nghị quyết khi xét thấy cần thiết.

3.1.3. Giám sát của Chính phủ, Chủ tịch nước

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có chức năng kiểm tra, giám sát trước hết thông qua những thẩm quyền được Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ quy định. Tuy nhiên, cơ chế kiểm tra thường xuyên và chuyên nghiệp của Chính phủ là cơ chế thanh tra của Chính phủ. Nội dung chủ yếu của hình thức thanh tra Chính phủ là kiểm tra các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực thi pháp luật mà hậu quả là kiến nghị về các biện pháp xử lý cho các cơ quan quản lý hoặc các cơ quan tư pháp, bị ràng buộc và chế ước trong khuôn khổ và chức năng của cơ quan quản lý cùng cấp.

Cùng với hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các hoạt động kiểm tra, giám sát khác, công tác kiểm tra, thanh tra của Chính phủ giữ vị trí quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả, kỷ cương của nền hành chính. Hoạt động kiểm tra, thanh tra của Chính phủ là một loại tự kiểm soát quyền lực trong nội bộ hệ thống, do các cơ quan chuyên trách (Thanh tra nhà nước) thực hiện đối với các bộ phận của hệ thống hành chính từ trên xuống dưới. Sự thiết lập hệ thống kiểm tra, thanh tra này bên cạnh các cơ chế kiểm tra, giám sát khác đối với hoạt động hành chính nhà nước là hết sức cần thiết vì so với các hệ thống cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước khác thì nguy cơ lạm quyền từ phía các cơ quan của Chính phủ là rất lớn. Hiện nay có nhiều quan điểm về vị trí của kiểm tra, thanh tra nhưng xét về bản chất, trong quản lý nhà nước cần phải có thanh tra, kiểm tra các hoạt động hành chính như một tác nhân tất yếu để hạn chế, khắc phục các khiếm khuyết của bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nói riêng.

Nội dung:

-   Kiểm tra, thanh tra hoạt động công vụ.

-   Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện thể chế hành chính

-   Kiểm tra, thanh tra bộ máy hành chính

-   Kiểm tra, thanh tra tính chính xác của quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền

-   Kiểm tra, thanh tra người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý (công chức, viên chức nhà nước).

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phải tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác kiểm tra, thanh tra của Chính phủ về tổ chức hệ thống cơ quan thanh tra, xác định chức năng, thẩm quyền kiểm tra, thanh tra của Chính phủ. Theo hướng đó, cần hoàn thiện mô hình kiểm tra, thanh tra của Chính phủ trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, mở rộng phạm vi và thẩm quyền. Hoạt động kiểm tra, thanh tra của Chính phủ trong tình hình mới phải bao quát những nội dung sau:

-   Kiểm tra, thanh tra hoạt động công vụ. Trong bất kỳ quốc gia nào, hoạt động công vụ cũng được xem là đối tượng của thanh tra, kiểm tra. Mặc dù có sự gắn bó giữa hoạt động công vụ và kiểm tra, thanh tra như là điều kiện và kết quả của nhau, nhưng đến lượt mình, kiểm tra, thanh tra như một công cụ thiết yếu làm cho hoạt động của công chức, viên chức có hiệu quả hơn: nâng cao chất lượng công việc, tính siêng năng, khả năng trung thành, sự tận tụy trong công việc, đạo đức nghề nghiệp đến mối quan hệ của họ với các chủ thể khác trong bộ máy nhà nước.... Có thể nói, kiểm tra, thanh tra là sự kiểm nghiệm, đánh giá nội dung hoạt động công vụ.

-   Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện thể chế hành chính.Thể chế hành chính

được thể hiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật và dưới góc độ quản lý, tất cả các lĩnh vực đó cần được kiểm tra, thanh tra một cách nghiêm ngặt. Việc kiểm tra phải thể hiện ở các mặt: kiểm tra tính thống nhất của hệ thống văn bản do Chính phủ và các cơ quan hành chính ban hành; kiểm tra thẩm quyền của các cơ quan hành chính quy định trong pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đó, kiểm tra việc ban hành các quy chế nhằm phân công, phân cấp trong hoạt động của các cơ quan hành chính phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kiểm tra tính minh bạch của pháp luật trong điều kiện hòa nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới; kiểm tra việc pháp luật đi vào cuộc sống.

-  Kiểm tra, thanh tra bộ máy hành chính. Trong điều kiện cải cách hiện nay, việc kiểm tra bộ máy là hết sức quan trọng. Kiểm tra bộ máy ở đây không chỉ dừng lại ở chỗ bộ máy có bao nhiêu cơ quan, hoạt động như thế nào mà cần tiếp cận cơ sở khoa học của việc hình thành bộ máy. Kết quả kiểm tra bộ máy mang tính khoa học là ở chỗ: chỉ ra cho những người có thẩm quyền nhận thức được rằng bộ máy của chúng ta hoạt động vì lợi ích của đại đa số những người lao động, và từ đó thiết kế bộ máy không phải vì quyền lợi của cá nhân này hay cá nhân khác. Đây là vấn đề hết sức khó khăn, cần có sức mạnh không chỉ trí tuệ của những người làm chính sách mà còn cả trí tuệ của những người làm công tác kiểm tra, thanh tra.

-   Kiểm tra, thanh tra tính chính xác của quyết định hành chính và hành vi

hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền. Theo pháp luật hiện hành, chúng ta chỉ có "cơ chế tĩnh" tức là cấp trên phát hiện thấy sai trái thì có quyền đình chỉ, hủy bỏ... chứ không có cơ chế tự kiểm tra và kiểm tra, thanh tra trước và sau khi ban hành (cơ chế động), trừ trường hợp quyết định hành chính và hành vi hành chính bởi Tòa án và các cơ quan thanh tra của chúng ta hiện nay cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là ở thẩm quyền xử lý. Để cơ quan hành chính tự kiểm tra tính chính xác của các quyết định hành chính và hành vi hành chính cần có thiết chế tài phán hành chính ở ngay trong Chính phủ, có thể theo hai hướng: Một là, thành lập cơ quan tài phán hành chính thuộc Chính phủ; Hai là, xây dựng lại hệ thống cơ quan thanh tra Chính phủ tập trung vào thanh tra trách nhiệm hành chính của người, cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động công vụ. Trước mắt, cần phân định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan thanh tra và Tòa hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện đối với các cơ quan và cán bộ, công chức hành chính, tạo điều kiện để các Tòa hành chính phát huy đúng chức năng và thẩm quyền.

-   Kiểm tra, thanh tra người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý (công chức, viên chức nhà nước). Việc kiểm tra con người trong hoạt động công vụ thể

hiện ở hai mặt: kiểm tra nhằm khắc phục tình trạng thiếu trật tự, kỷ cương nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi trái pháp luật của công chức, viên chức nhà nước; kiểm tra nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể trong từng cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện tổ chức và cơ sở pháp lý của hệ thống thanh tra trong lĩnh vực hành chính nhà nước. Trước hết cần thấy rằng thanh tra là chức năng của quản lý. Vì vậy, cần có chủ thể chuyên thực hiện chức năng thanh tra có thẩm quyền độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, tránh sự chỉ đạo theo dõi kiểm tra của riêng người Thủ trưởng. Cơ quan chuyên thực hiện chức năng thanh tra này có thể được tổ chức theo hai cách: hoặc là, chỉ có cơ quan Thanh tra của Chính phủ. Cơ quan này kiểm tra, thanh tra trách nhiệm hành chính của các cơ quan, người có trách nhiệm (công chức, viên chức) trong hoạt động công vụ. Phạm vi hoạt động của cơ quan này tập trung vào nội dung quản lý nhà nước của tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước bao gồm cả các hoạt động hành chính của Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát; hoặc là, thành lập cơ quan Thanh tra của Quốc hội. Đây là quan điểm của một số nước tổ chức mô hình theo chế độ đại nghị triệt để, nhằm đề cao vai trò của Nghị viện. Tuy nhiên, theo phương án này và theo lý luận, cho dù Quốc hội có thành lập tổ chức thanh tra thì theo bản chất của quản lý, cơ quan thực hiện chức năng hành pháp vẫn phải có cơ quan kiểm tra, thanh tra riêng của mình để thực hiện việc kiểm tra chu trình quản lý.

Như vậy, dù mô hình tổ chức nào thì sự tồn tại của một số loại cơ quan thanh tra nằm ngay trong hệ thống hành chính cũng là tất yếu. Hiện nay, theo Luật Thanh tra ở nước ta, hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước được thành lập gồm cơ quan Thanh tra Chính phủ và cơ quan Thanh tra ở các bộ, ngành. Các cơ quan thanh tra bộ, ngành mang tính chất là thanh tra nhà nước và tổ chức, hoạt động cụ thể của nó do Thanh tra Chính phủ quy định. Nói cách khác, cơ quan Thanh tra được thiết lập ở các bộ, ngành là một bộ phận chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan thanh tra.

Chính phủ. Cơ cấu này đảm bảo tính thống nhất và phối hợp chặt chẽ của hệ thống thanh tra trong lĩnh vực hành chính, đảm bảo cho các khâu của hoạt động hành chính nhà nước đều được kiểm tra bởi các cơ quan độc lập với khâu hoạt động hành chính đó. Tuy nhiên, vấn đề vẫn đang tiếp tục đặt ra là cần cụ thể hóa bằng các cơ chế pháp lý các mối quan hệ trong cơ cấu đó, đặc biệt cần xây dựng cơ chế để nâng cao tinh thần trách nhiệm cả về đạo đức, tinh thần và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể lãnh đạo trong hệ thống các cơ quan nhà nước, nhất là các chức danh như: Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng..... đồng thời cũng cần tạo ra các đảm bảo về

mặt vật chất (phương tiện làm việc, đội ngũ cán bộ...) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra nhà nước.

3.1.4. Cơ chế giám sát của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân

Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thực hiện các hình thức kiểm tra, giám sát hai mặt. Một mặt, đó cũng là cơ chế tự kiểm tra trong nội bộ hệ thống như hoạt động kiểm tra, thanh tra của Chính phủ. Cụ thể, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là người lãnh đạo toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và do đó việc kiểm tra, giám sát được thực hiện thông qua chế độ báo cáo công tác. Mặt khác, chức năng cơ bản của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, vì vậy sự kiểm tra, giám sát này là sự kiểm tra, giám sát từ phía Viện kiểm sát đối với các cơ quan, cá nhân khác.

Theo quy định hiện hành TAND các cấp trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN. Giám sát thông qua hoạt động xét xử nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Hoạt động giám sát của TAND chỉ tiến hành thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế. trong quá trình xét xử bên cạnh việc xác định tội phạm, TAND kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi quản lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ quan quản lý nhà nước và người có chức vụ. Và sự kiểm tra, giám sát bên trong hệ thống Tòa án trước hết được thực hiện thông qua thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm của Tòa án cấp trên đối với các Tòa án cấp dưới, nhưng đây là sự kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền tố tụng chứ không phải theo thẩm quyền hành chính trên - dưới. Tòa án kiểm tra, giám sát thông qua tổ chức, cá nhân tuân thủ Hiến pháp, pháp luật là sự kiểm tra của một cơ quan đối với mọi cơ quan khác từ ngoài, mang tính độc lập

Đối tượng giám sát: Có thể nói, giám sát của cơ quan tài phán đây là loại hình giám sát của hệ thống cơ quan độc lập (cơ quan nhà nước) thông qua trình tự tố tụng, được thực hiện thông qua việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. sự kiểm tra, giám sát bên trong hệ thống tòa án

Nội dung:

Giám sát thông qua hoạt động xét xử nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Hoạt động giám sát của TAND chỉ tiến hành thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế. trong quá trình xét xử bên cạnh việc xác định tội phạm, TAND kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi quản lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ quan quản lý nhà nước và người có chức vụ và sự kiểm tra, giám sát bên trong hệ thống Tòa án trước hết được thực hiện thông qua thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm của Tòa án cấp trên đối với các Tòa án cấp dưới, nhưng đây là sự kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền tố tụng chứ không phải theo thẩm quyền hành chính trên - dưới. Tòa án kiểm tra, giám sát thông qua tổ chức, cá nhân tuân thủ Hiến pháp, pháp luật là sự kiểm tra của một cơ quan đối với mọi cơ quan khác từ ngoài, mang tính độc lập.

Trong Hiến pháp 2013 VKSND có vai trò vị trí đặc biệt để thực hiện quyền lực nhà nước đó là: Bảo đảm pháp chế XHCN, bảo vệ tài sản nhà nước, bảo vệ tài sản, từ đó danh dự, nhân phẩm của công dân..

Với hai chức năng cơ bản là kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố. Viện Kiểm sát thực hiện:

-   Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

-  Điều tra một số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán

bộ thuộc các cơ quan tư pháp.

-   Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự.

-   Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.

-   Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án quyết định của TAND.

-  Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

-  Về chủ thể kiểm sát: là VKSND ở cả 3 cấp: huyện, tỉnh và Trung ương.

-  Về đối tượng kiểm sát: trên cả hai lĩnh vực tư pháp hình sự và tư pháp dân sự.

VKSND kiểm soát hoạt động của các cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm soát hoạt động xét xử vụ án hình sự, kiểm soát với hoạt động thi hành án hình sự. Đảm bảo cho hoạt động tư

pháp hình sự "phải luôn chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm; không làm oan người vô tội". Đây là yêu cầu của pháp luật, cũng là yêu cầu của nhân dân, của Đảng và Nhà nước ta.

Tòa án giữ vai trò nòng cốt trong việc giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, đảm bảo sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự; để đạt được điều đó thì đối tượng của kiểm sát là kiểm sát việc thụ lý lập hồ sơ vụ án, tham gia các phiên tòa, kiểm sát tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng... đó là việc thực hiện quyền lực nhà nước của bản thân Viện kiểm sát. Ngoài ra, khi thực hành quyền công tố nhà nước trong điều tra truy tố, xét xử các vụ án hình sự Viện Kiểm sát còn điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội thuộc các cơ quan tư pháp. Tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền kiểm sát, theo quy định của pháp luật.

3.1.5. Cơ chế giám sát của MTTQ

Hiến pháp 2013 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [9].

Về tính chất của hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam, trong Điều 2 Luật MTTQ Việt Nam quy định: Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của nhà nước, nhằm góp phần xây dựng, bảo vệ nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

* Đối tượng giám sát: MTTQ Việt Nam giám sát hoạt động cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức theo quy định của pháp luật.

Có thể nói giám sát của MTTQ Việt Nam và các thành viên của Mặt trận: là quyền giám sát của một tổ chức mang tính liên minh chính trị, liên hiệp, phối hợp và thống nhất hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước thông qua việc động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia hoạt động giám sát với cơ quan nhà nước và tổng hợp ý kiến của nhân dân cũng như của các thành viên để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Giám sát của MTTQ Việt Nam và các thành viên của Mặt trận: là quyền giám sát của một tổ chức mang tính liên minh chính trị, liên hiệp, phối hợp và thống nhất hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước thông qua việc động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia hoạt động giám sát với cơ quan nhà nước và tổng hợp ý kiến của nhân dân cũng như của các thành viên để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Được thực thi theo quy định của pháp luật, tức là trong các văn bản pháp luật nào có quy định của hoạt động giám sát thì MTTQ thực hiện quyền giám sát của mình theo quy định của văn bản pháp luật đó. (Chẳng hạn Luật Khiếu nại tố cáo có 4 điều, từ Điều 91 đến Điều 94). Về giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và của tổ chức thanh tra nhân dân. Cho đến nay đã có gần 30 văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực có quy định về hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam.

3.1.6. Cơ chế giám sát của chính quyền địa phương

Trong tổ chức chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Quy định này đã tạo ra sự nhận thức không thống nhất về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ủy ban nhân dân vừa trực thuộc Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Trong lúc đó mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan cấp trên lại không được xác định cụ thể.

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là hai bộ phận hợp thành chính quyền địa phương, song lại nằm trong mối quan hệ pháp lý không đồng nhất với các cơ quan nhà nước cấp trên. Đây là một trong những mâu thuẫn lớn trong việc xử lý mối quan hệ giữa trung ương và địa phương từ góc độ cơ cấu tổ chức và thẩm quyền.

Trong bộ máy nhà nước ta, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho nhân dân địa phương trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương. Với vị trí, tính chất đó, Hội đồng nhân dân một mặt là đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát, mặt khác, nó cũng là chủ thể thực hiện kiểm tra, giám sát. Hội đồng nhân dân là cơ quan thực hiện việc giám sát đối với các đối tượng sau đây: Thường trực Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân (bao gồm cả các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân); Hội đồng nhân dân cấp dưới; Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang của công dân ở địa phương. Tuy nhiên, không phải Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát với thẩm quyền như nhau đối với hoạt động của mọi đối tượng chịu sự giám sát. Mức độ giám sát của Hội đồng nhân dân phụ thuộc vào vị trí, vai trò và sự phân cấp quản lý cho Hội đồng nhân dân mỗi cấp, tính chất của mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và đối tượng chịu sự giám sát và một số yếu tố khác

HĐND thường xuyên thực hiện giám sát gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban HĐND, và giám sát của đại biểu HĐND. Phương thức là: xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp. Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cùng cấp. Xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cùng cấp, Nghị quyết của HĐND cấp dưới, trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,

nghị quyết của UBTVQH, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND cùng cấp.

Thành lập đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

3.1.7. Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước

Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do “ Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhâṇ, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Do vậy Nhân dân là chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước với đối tượng chính là hoạt động của cơ quan nhà nước, những người thực thi quyền lực nhà nước

Quyền giám sát của nhân dân đối với nhà nước là: khi xem xét, đánh giá hoạt động với tư cách của các đại biểu dân cử, trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo hoặc thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân do mình bầu ra. Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước và cán bộ công chức nhà nước là một nội dung quan trọng của quyền dân chủ của nhân dân.

Do vậy, quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước là quyền giám sát của những người chủ của quyền lực nhà nước.

3.2. Các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền

Có thể nói hình thức chủ yếu của chủ thế giám sát quyền lực nhà nước là hoạt động kiểm tra, giám sát của các chủ thể với các đối tượng kiểm soát.

So với thanh tra, kiểm tra, giám sát thì kiểm soát có phạm vi xem xét, đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn, nó bao hàm cả việc giám sát, thanh

tra, kiểm tra, theo dõi. Đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá của kiểm soát là tất cả các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước. Nội dung kiểm soát bao gồm việc tổ chức và việc thực hiện đối với cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước khá đa dạng, đó có thể là nhân dân, các đảng phái, của các tổ chức chính trị - xã hội, cũng có thể do chính nhà nước (các cơ quan nhà nước)

3.2.1. Hình thức kiểm tra giám sát của Đảng

Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra của Đảng. Cấp ủy Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

Công tác kiểm tra của Đảng: là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên, hướng vào việc xây dựng và thực hiện các quyết định, giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt và nội bộ Đảng, hoàn thiện quy trình lãnh đạo giữ vững kỷ luật với mục đích bảo đảo cho các quyết định đã đề ra được thực hiện nghiêm túc và có kết quả cao. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cung cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

3.2.2. Phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội

Các cá nhân đại biểu Quốc hội chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC.

UBTVQH cơ quan thường trực của Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội. Pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, giám sát hoạt động của Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, giám sát hoạt động của HĐND, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, thực hiện quyền giám sát trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ do Hiến pháp (1992) và Luật Tổ chức Quốc hội quy định: Khi cần thiết Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cử các thành viên của mình đến cơ quan tổ chức hữu quan để điều tra xem xét về vấn đề mà hội đồng và các Ủy ban quan tâm.

Hậu quả giám sát tối cao của Quốc hội: là đình chỉ, hủy bỏ những văn bản do các cơ quan nói trên ban hành trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của Quốc hội hay UBTVQH. Bãi miễn, miễn nhiệm các chức vụ do Quốc hội bầu và phê chuẩn.

3.2.3. Hoạt động thanh tra, kiểm tra của chính phủ

Hoạt động thanh tra, kiểm tra của Chính phủ thể hiện chủ yếu trên các phương diện sau:

-  Kiểm tra, thanh tra hoạt động công vụ:

-  Kiểm tra, thanh tra bộ máy hành chính.

-   Kiểm tra, thanh tra tính chính xác của quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan người có thẩm quyền.

-   Kiểm tra, thanh tra người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý (công chức, viên chức nhà nước).

Cụ thể:

-  Kiểm tra, thanh tra hoạt động công vụ

Là một loại hoạt động đặc thù chỉ xuất hiện trong bộ máy nhà nước do công chức, viên chức thực hiện. Hoạt động công vụ trong bất kỳ quốc gia nào cũng được xem là đối tượng của thanh tra, kiểm tra. Mặc dù có sự gắn bó giữa hoạt động công vụ và kiểm tra, thanh tra như là điều kiện và kết quả của nhau. Nhưng đến lượt mình, kiểm tra, thanh tra như một công cụ thiết yếu làm cho hoạt động của công chức, viên chức có hiệu quả hơn như: nâng cao chất lượng công việc, tính siêng năng, khả năng trung thành, sự tận tụy trong công việc, đạo đức nghề nghiệp đến mối quan hệ của họ với các chủ thể khác trong bộ máy nhà nước. có thể nói, kiểm tra, thanh tra là sự kiểm nghiệm, đánh giá (có khen, chê) nội dung hoạt động công vụ.

Hoạt động công vụ không chỉ bó hẹp trong các cơ quan hành chính mà tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Do đó, tính hoạt động công vụ phải được một loại quyền lực khác xem xét - đó là quyền kiểm tra, thanh tra (ở đây, nói đến việc phải đặt cơ quan kiểm tra, thanh tra tại Chính phủ, mà chỉ đề cập đến bản chất của kiểm tra, thanh tra). Không có loại quyền lực nào đứng trên quyền lực nào, mà chỉ có "quyền lực nào giám sát, kiểm tra quyền lực nào". Trong cơ chế thực hiện quyền lực, cần thống nhất thừa nhận các loại hình quyền giám sát, kiểm tra đó. Cho dù Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với các hoạt động nhà nước và xã hội, TAND có quyền giám sát thông qua việc xét xử, VKSND có quyền giám sát thông qua hoạt động tư pháp thì đến lượt mình, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát, các thẩm phán, kiểm sát viên khi thực hiện công vụ cũng phải chịu sự kiểm tra, thanh tra - một phương thức quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ của chính các cơ quan và cá nhân đó.

-  Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện thể chế hành chính

Thể chế hành chính được thể hiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật (thể chế kinh tế, thể chế khoa học, công nghệ v.v). Dưới góc độ quản lý, tất cả lĩnh vực đó cần được kiểm tra, thanh tra một cách nghiêm ngặt.

Việc kiểm tra các quy định của pháp luật trong đời sống quản lý thể hiện ở các mặt:

+  Pháp luật có đi vào cuộc sống được hay không.

+   Tính thống nhất của hệ thống văn bản do Chính phủ và các cơ quan hành chính ban hành.

+   Thẩm quyền của các cơ quan hành chính quy định trong pháp luật đã phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đó.

+  Việc ban hành các quy chế nhằm phân công, phân cấp trong hoạt động của các cơ quan hành chính đã phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

+  Tính minh bạch của pháp luật trong điều kiện hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới (việc thực hiện hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, sự phản ứng của các chủ thể đối với chính sách, pháp luật của Nhà nước...).

Hoạt động kiểm tra của chính phủ, UBND các cấp được đặc trưng bởi tính trực thuộc của các đối tượng thanh tra, kiểm tra đối với những cơ quan đó, mang tính chất quyền lực - phục tùng.

Chính phủ, UBND có thể kiểm tra bất kỳ một hoạt động nào của đối tượng bị quản lý, có thể thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất khi phát hiện ra những vi phạm.

Hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý thẩm quyền chung tiến hành dưới nhiều hình thức: nghe báo cáo, đánh giá báo cáo của đối tượng kiểm tra, tự tổ chức các đoàn kiểm tra tổng hợp hoặc từng vấn đề, thông qua thanh tra nhà nước, thanh tra bộ, sở.

Do tính trực thuộc của đối tượng kiểm tra vào chủ thể kiểm tra nên hoạt động kiểm tra của Chính phủ, UBND các cấp có tính quyền lực cao; có quyền ra quyết định hành chính bắt buộc đối tượng kiểm tra phải thi hành. Có quyền đình chỉ, bãi bỏ các quyết định trái pháp luật hoặc sai trái của đối tượng kiểm tra. Khi cần có thể áp dụng các biện pháp pháp lý đối với tất cả những người có chức vụ hoặc đối với cơ quan, tổ chức đơn vị trực thuộc.

Hoạt động kiểm tra cơ quan thẩm quyền chung được thực hiện thông qua kiểm tra chức năng và kiểm tra nội bộ.

Kiểm tra chức năng: Là hoạt động kiểm tra do các cơ quan quản lý ngành hay lĩnh vực (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực được thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị không trực thuộc mình về mặt tổ chức trong của chấp hành pháp luật, đường lối chính sách và các quy tắc quản lý về ngành, lĩnh vực mà mình quản lý thống nhất trong cả nước. Khi tiến hành kiểm tra theo chức năng các cơ quan kiểm tra có quyền yêu cầu cơ quan bị kiểm tra cùng cấp đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định trái pháp luật của cơ quan đó, nhưng không có quyền tự mình đình chỉ, sửa đổi bãi bỏ quyết định đó.

Cũng không có quyền áp dụng chế tài kỷ luật, phạt hành chính, trừ trường hợp cơ quan kiểm tra đó có chức năng là cơ quan thanh tra nhà nước chuyên ngành. Chẳng hạn, Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực có quyền kiến nghị với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định do cơ quan đó ban hành trái với các văn bản pháp luật nhà nước hoặc của Bộ, của ngành và lĩnh vực do Bộ phụ trách. Nếu cơ quan nhận được kiến nghị không nhất trí thì trình Thủ tướng quyết định.

+  Kiểm tra nội bộ là nhiệm vụ, chức năng của mọi cơ quan quản lý nhà nước. Là hoạt động kiểm tra trong nội bộ ngành, một cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cơ sở của nhà nước tiến hành. Hoạt động này có tính trực thuộc chặt chẽ giữa chủ thể và đối tượng bị kiểm tra. Phạm vi kiểm tra bao quát mọi hoạt động, mọi vấn đề thuộc nhiệm vụ chức năng của cơ quan cấp dưới, nhân viên dưới quyền. Thủ trưởng cơ quan có thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm kỷ luật đối với đối tượng bị kiểm tra đình chỉ việc thực hiện hoặc bãi bỏ các văn bản quản lý của đối tượng bị kiểm tra.

3.2.4. Hình thức kiểm soát quyền lực của VKSND và TAND

Thực hiện quyền công tố và Tiến hành thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế... trong quá trình xét xử bên cạnh việc xác định tội phạm, TAND, VKSND kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi quản lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ quan quản lý nhà nước và người có chức vụ.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của Toà án nhân dân, VKSND trước hết là hoạt

động tự kiểm tra việc thực thi quyền lực Nhà nước trong phạm vi hệ thống các cơ quan Tòa án, VKSND. Đó là sự kiểm tra công việc trong nội bộ mỗi Tòa án mỗi VKSND. Đó cũng là sự kiểm tra của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, VKSND cấp trên với VKSND cấp dưới về việc tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật trong tổ chức và hoạt động xét xử. Hoạt động kiểm tra này được tiến hành chủ yếu thông qua kiểm tra chất lượng tố tụng, chất lượng các bản án để phát hiện ra những dấu hiệu của sự lạm quyền, vi phạm pháp luật của đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử. Từ phương diện này có thể thấy việc tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử và việc xác định rõ ràng cơ chế chịu trách nhiệm pháp lý của đội ngũ thẩm phán là mô hình thích hợp nhất đảm bảo hiệu quả của hoạt động tự kiểm tra trong hệ thống cơ quan Tòa án.

Tuy nhiên, với tính cách là cơ quan xét xử duy nhất ở nước ta, Tòa án có một vị trí hết sức quan trọng trong đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội và cũng do vậy, Tòa án giữa vị trí đặc biệt trong cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước, trước hết là giám sát các hoạt động hành chính Nhà nước. Nói cách khác, chính hoạt động quyền lực mang tính đặc thù của Tòa án đã xác định vai trò quan trọng của Tòa án đối với việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước của các cơ quan Nhà nước khác. Chức năng giám sát của Tòa án xuất hiện gần như đương nhiên từ bản thân hoạt động quyền lực đặc thù của Tòa án. Đó cũng là lý do khiến cho hoạt động giám sát của Tòa án không cần đến một hệ thống tổ chức chuyên biệt làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Tòa án giám sát hoạt động hành chính Nhà nước thông qua hai cách: Một là, qua việc tổng kết công tác xét xử, Tòa án có thể có những kiến nghị với các cơ quan hữu quan hoặc thông qua báo cáo tổng kết trình trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân về các vấn đề sai sót cần khắc phục trong hoạt động quản lý hành chính để không làm phát sinh các tranh chấp pháp luật hoặc vi phạm pháp luật; Hai là, thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, kinh tế và hành chính mà đưa ra các quyết định về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước nhằm buộc các cơ quan hành chính Nhà nước tuân thủ đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật, hạn chế tình trạng quan liêu, lạm quyền, tha hóa quyền lực của các cơ quan đó.

Cách thứ hai này là hình thức giám sát cơ bản và có hiệu quả nhất của Tòa án đối với việc tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực hành chính. Trên thực tế, thông qua hoạt động xét xử, Tòa án có thể giám sát bằng phương pháp kiểm tra có tính tứ phát, nghĩa là, qua xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, Tòa án phát hiện hoạt động hành chính có sai sót và xử lý sai sót đó. Kết quả xử lý của Tòa án vừa có giá trị chỉ ra và khôi phục lại trật tự đúng của các quan hệ quyền lực vừa có giá trị phòng ngừa nguy cơ sai phạm tiếp theo. Nhưng quan trọng hơn là Tòa án có thể giám sát bằng phương pháp kiểm tra chủ động, theo đó, trên cơ sở khiếu nại của cá nhân, tổ chức, Tòa án trực tiếp tiến hành xét xử các tranh chấp hành chính và đưa ra quyết định về tính hợp pháp hoặc không hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính.

Do vậy, giám sát của cơ quan VKSND và TAND đây là loại hình giám sát của hệ thống cơ quan độc lập đối với thông qua trình tự tố tụng, được thực hiện thông qua việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.

Vấn đề giám sát của Tòa án đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước, chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động quản lý. Thực chất đây là vấn đề kiểm soát quyền lực của Tòa án, Viện kiểm sát đối với hành pháp nhằm đảm bảo cho quyền lực nhà nước luôn nằm trong quỹ đạo đã định và thực thi tốt nhất quyền dân chủ của công dân phục vụ lợi ích chung của xã hội, của đất nước có hiệu quả, làm cho pháp luật được tôn trọng, pháp chế và kỷ cương được giữ vững.

Tòa án thực hiện việc giám sát đối với hoạt động quản lý hành chính bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau như thông qua xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, tòa án phát hiện hoạt động hành chính có sai sót và xử lý sai sót đó. Và trên cơ sở giải quyết khiếu nại, tố cáo của cá nhân tổ chức, tòa án xét xử tranh chấp hành chính và đưa ra quyết định về tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính.

Hiện nay, Tòa án được trao quyền quyền xét xử các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính thì phải trao cho Tòa án những quyền hạn nhất định, là một trong những quyền không thể thiếu được, đó là: quyền hủy quyết định hành chính hoặc buộc cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu kiện mà Tòa án xác định là trái pháp luật.

Có thể nói mặc dù Tòa án không có quyền ra một quyết định hành chính thay thế cho cơ quan quản lý nhà nước tuy nhiên quyền phán quyết và yêu cầu cơ quan này ra quyết định phù hợp với luật đã cho thấy khả năng kiểm soát quyền lực hành chính của cơ quan TAND và VKSND.

3.2.5. MTTQ Việt Nam thực hiện quyền giám sát quyền lực bằng các hình thức sau đây

Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia hoạt động giám sát với các cơ quan nhà nước.

Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân dân và các thành viên mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét giải quyết xử lý những tình huống vi phạm pháp luật.

Giám sát này mang tính nhân dân dưới các hình thức theo dõi, phát hiện, nhận xét và kiến nghị.

Để thực hiện nhiệm vụ giám sát, những năm vừa qua MTTQ Việt Nam đã triển khai thực hiện hoạt động giám sát trên một số lĩnh vực như sau:

-  Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật

Những dự án luật, pháp lệnh mà MTTQ Trung ương trực tiếp tham gia đều là những văn bản pháp luật có liên quan đến các lĩnh vực sau:

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Các tầng lớp do MTTQ trực tiếp vận động như: nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo, già làng trưởng bản, người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổ chức bộ máy nhà nước, quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam. Việc MTTQ Việt Nam tham gia góp ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh

ngay từ khi soạn thảo có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam; góp phần làm cho pháp luật có tính khả thi và giảm những sai sót, sơ hở trong xây dựng và ban hành pháp luật.

-  Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp

Việc giám sát trong lĩnh vực hoạt động tư pháp chủ yếu là giám sát quá trình thực hiện pháp luật về tố tụng.tức là MTTQ có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng hình sự theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thông qua việc lựa chọn giới thiệu Hội thẩm nhân dân để Thường vụ Quốc hội cử và HĐND bầu và thông qua việc theo dõi giúp đỡ Hội thẩm mà MTTQ giám sát hoạt động xét xử của TAND.

-  Trong lĩnh vực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Trong lĩnh vực này, MTTQ Việt Nam đã giám sát việc tiếp dân và tham gia giải quyết đối với đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những đối tượng do MTTQ trực tiếp vận động, đến cán bộ của MTTQ Việt Nam và những trường hợp

vi  phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

-  Trong lĩnh vực thực thi chính sách, pháp luật

MTTQ Việt Nam giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật chủ yếu quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vận động nhân dân thi hành chính sách, pháp luật thông qua các phong trào tình nghĩa Thông qua các cuộc vận động mà MTTQ đã phát hiện những chính sách, pháp luật có được thực thi hay không, pháp luật có phù hợp với thực tiễn hay không. Trên cơ sở đó, MTTQ đã đề nghị với Nhà nước xem xét để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành chính sách pháp luật cho phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội.

3.2.6. Hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, đó là: giám sát tại kỳ họp; giám sát thông qua Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; giám sát thông qua hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân. Đối với mỗi đối tượng giám sát và tùy theo vị trí, mối quan hệ của từng chủ thể thực hiện quyền giám sát đối với đối tượng chịu sự giám sát mà pháp luật hiện hành quy định phương thức cũng như cách xử lý đối với các việc làm trái pháp luật khác nhau. HĐND thường xuyên thực hiện giám sát gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban HĐND, và giám sát của đại biểu HĐND.

Phương thức là: xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp. Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cùng cấp. Xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cùng cấp, Nghị quyết của HĐND cấp dưới, trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND cùng cấp.

Thành lập đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu. hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân phụ thuộc vào những vấn đề sau:

-   Xác lập mối quan hệ lãnh đạo đúng đắn giữa cấp ủy Đảng và Hội đồng nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, các cấp

ủy Đảng chỉ nên thực hiện sự lãnh đạo đối với Hội đồng nhân dân trên những hướng chủ yếu và kiểm tra việc thực hiện các đường hướng đó. Phần còn lại để Hội đồng nhân dân tự quyết định và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình.

- Tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân nhằm bảo đảm cho cơ quan này đảm nhiệm tốt vai trò giám sát của mình. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp hiện hành là một bước tiến quan trọng trong việc kiện toàn cơ cấu tổ chức cả hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, hiện vẫn đang còn nhiều vấn đề vướng mắc làm hạn chế đến hiệu quả thực hiện các chức năng của Hội đồng nhân dân nói chung và hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát nói riêng.

-   Xây dựng một đạo luật về giám sát của Hội đồng nhân dân. Đặc điểm của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đặt ra đòi hỏi phải có văn bản pháp luật điều chỉnh riêng, có thể quy định ngay trong hình thức luật mà không cần phải điều chỉnh trước trong văn bản dưới tên gọi pháp lệnh. Trong văn bản luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, cần thiết phải quy định các vấn đề như: các chủ thể thực hiện thẩm quyền giám sát; các đối tượng chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân; giới hạn giám sát, quyết định hành vi của đối tượng chịu sự giám sát; hậu quả của giám sát và chế tài đối với các hành vi không thực hiện các quy định pháp luật về giám sát; thủ tục giám sát.

Trên đây là những tài liệu và kiến thức mà Luận văn 1080 tổng hợp đươc về Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền. Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm thuê luận văn.

Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

3.2.7. Quyền giám sát của nhân dân được thực hiện thông qua những hình thức sau đây

+  Xem xét đánh giá phẩm chất năng lực của các đại biểu dân cử đó là các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND. Những người này đều do nhân dân bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Theo quy định hiện hành, nhân dân có quyền xem xét, đánh giá tư cách của các đại biểu có xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân hay không. Đại biểu Quốc hội, HĐND có thể bị bãi nhiệm khi không còn sự tín nhiệm của nhân dân. Thực chất ở đây nhân dân đã thực hiện quyền giám sát của mình đối với tư sách và hoạt động của các đại biểu.

+   Trực tiếp tham gia quản lý nhà nước quản lý xã hội: Với quan điểm của Đảng ta là dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, nhân dân có quyền tham gia ý kiến với nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước. Nhân dân cũng có quyền trực tiếp tham gia các hoạt động của bộ máy nhà nước trong cách quản lý đời sống kinh tế - xã hội giữ gìn an ninh trật tự, tổ chức đời sống cộng đồng ở cơ sở. Thời gian qua Chính phủ ban hành các nghị định để thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã phường, thị trấn, trong doanh nghiệp, trong cơ quan đơn vị tổ chức hành chính sự nghiệp. Những nghị định này tạo cơ sở pháp lý để nhân dân được biết, được bàn trước khi cơ quan, tổ chức ra quyết định hoặc có những việc nhân dân được tự quyết định và thực hiện. Đó chính là yếu tố của quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước.

+  Thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo của công dân: Thực hiện

quyền khiếu nại - tố cáo chính là việc nhân dân phát hiện ra những việc làm sai trái, những hành vi vi phạm pháp luật thông qua một trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Đề nghị cơ quan tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Qua đó góp phần đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước được đúng đắn, ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi  phạm pháp luật, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước. Có thể nói việc thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo là biểu hiện cao độ cho quyền làm chủ của nhân dân là một hình thức hữu hiệu để nhân dân giám sát bộ máy nhà nước.

+   Thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân. Đây là tổ chức do nhân dân và tập thể những người lao động bầu ra ở xã phường, thị trấn, cơ quan đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước. Thông qua tổ chức này nhân dân trực tiếp giám sát việc chấp hành pháp luật trong phạm vi địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, giám sát hoạt động của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan đơn vị.

+  Thông qua các hội, đoàn thể, thực hiện chức năng phản biện xã hội đối với hoạt động của những cơ quan, công chức nhà nước.

Vậy quyền giám sát của nhân dân đối với nhà nước là: quyền của nhân dân khi xem xét, đánh giá hoạt động với tư cách của các đại biểu dân cử, trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện quyền khiếu nại - tố cáo hoặc thông qua hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân do mình bầu ra. Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước và cán bộ công chức nhà nước là một nội dung quan trọng của quyền dân chủ của nhân dân.

Có thể nói vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền đã trở thành một quan trọng và cấp thiết để duy trì và phát triển nhà nước. ở việt Nam việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta coi là nhiệm vụ quan trọng và đã được Hiến pháp ghi nhận. Nhiệm vụ đó được Đảng đặt trong định hướng chung của việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

4. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW Ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
  2. C. Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  3. Lê Cảm (2002), “Học thuyết Nhà nước pháp quyền, một số vấn đề lịch sử hình thành và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (10).
  4. Lê Cảm, Dương Bá Thanh (2010), “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong Nhà nước pháp quyền: một số vấn đề lý luận cơ bản”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (1).
  5. Lê Cảm, Dương Bá Thanh (2010), “Cơ chế kiểm soát quyền lực Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền: một số vấn đề lý luận và thực trạng ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12).
  6. Ngô Huy Cương (2001), “Nhà nước pháp quyền với việc xây dựng chính quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (6).
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Chấp hành Trung ương - Ban chỉ đạo tổng kết lý luận (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2005), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật Hà Nội.
  9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật.
  10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  11. Nguyễn Minh Đoan (2009), “Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  12. Montesquieu, Hoàng Thanh Đạm (dịch) (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục và Khoa Luật Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
  13. Hoàng Thị Kim Quế (2002), “Tư tưởng Đông - Tây về Nhà nước pháp luật, những nhân tố Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (3).
  14. Hoàng Thị Kim Quế (2007), Giáo trình lý luận chung nhà nước pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
  1. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Nhận diện Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (12).
  2. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
  3. Quốc hội (2004), Luật giám sát, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  4. Quốc hội (2004), Luật Mặt trận tổ quốc Việt nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
  5. Quốc hội (2004), Luật tổ chức chính phủ, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
  6. Quốc hội (2004), Luật tổ chức Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
  7. Quốc hội (2004), Luật tổ chức tòa án nhân dân, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
  8. Quốc hội (2004), Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
  9. Vũ Thư (2006), “Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12).
  10. Đào Trí Úc (1989), “Nhà nước pháp luật xã hội chủ nghĩa là gì?” Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (4), tr.18.
  11. Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội.
  12. Đào Trí Úc (2001), “Về nhu cầu, mức độ sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Cộng sản, (10).
  13. Đào Trí Úc (2001), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (7).
  14. Đào Trí Úc (chủ biên) (1996), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
  15. Đào Trí Úc (chủ biên) (2003), Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  16. Đào Trí Úc (chủ biên) (2005), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
  17. Đào Trí Úc (chủ nhiệm đề tài) (2006), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đề tài KHXH 05.05.
  18. Đào Trí Úc, Đinh Ngọc Vượng (1992), Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền, Nxb Pháp lý, Hà Nội.
  19. Đào Trí Úc, Lê Minh Thông (1999), “Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và Phương Tây đối với sự phát triển của các tư tưởng pháp lý Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (5).

   34. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 31, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá