Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của Ngân Hàng

Nguyễn Tuyết Anh 04/03/2019 Tài chính – Ngân hàng
Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của Ngân Hàng
5/5 (2 đánh giá) 2 bình luận

Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Quy trình cho vay tiêu dùng gồm 14 bước như sau:

Tham khảo thêm các bài viết khác cùng chủ đề:

Hoạt động cho vay và hình thức cho vay cơ bản của các ngân hàng

Cơ sở lí luận về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1. Khái niệm cho vay tiêu dùng

Trước hết, có thể nói, cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng cho khách hàng. Vậy để có thể hiểu một cách rõ ràng về cho vay tiêu dùng, ta cần phảI hiểu rõ kháI niệm về tín dụng Ngân hàng.

Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các tổ chức định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Tín dụng được chia ra làm nhiều loại, trong đó tín dụng tiêu dùng là một trong số đó và cũng góp phần đem lại nguồn thu đáng kể cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

Ta có thể định nghĩa cho vay tiêu dùng như sau:

Cho vay tiêu dùng là các khoàn cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng trang trải nhu cầu nhà ở, mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, giáo dục, y tế và các dịch vụ khác.

2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng có những đặc trưng cơ bản sau:

Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ và số lượng các khoản vay lớn. Do vậy chi phí giao dịch bình quân cao (bao gồm những chi phí về thẩm định, các thủ tục cho vay, giám sát vốn vay) dẫn đến chi phí cho vay cao. Do vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao.

Nhu cầu cho vay tiêu dùng của khách hàng thuờng phụ thuộc vào chu kì kinh tế. Cho vay tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế. Nói một cách chi tiết: Khi nền kinh tế tăng trưởng làm thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo, vì vậy số người đi vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cũng tăng theo. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, đầu tư giảm dẫn đến lạm phát và thất nghiệp tăng theo, nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm dẫn đến nhu cầu vay tiêu dùng cũng giảm theo.

Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường ít co giãn với lãi suất. Bởi vì một khi đã đi vay để phục vụ cho mục đích tiêu dùng, khách hàng thường chỉ quan tâm đến việc làm sao nhu cầu tiêu dùng của họ được thoả mãn một cách tốt nhất mà không quan tâm lắm đến vấn đề lãi suất.

Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng có quan hệ mật thiết tới thu nhập và trình độ văn hoá của họ. Nếu thu nhập của khách hàng cao, họ sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng và ngược lại. Cũng như vậy, nếu trình độ học vấn cao, khách hàng sẽ hướng nhu cầu của họ đến những hàng hoá cao cấp, do vậy nhu cầu vay để tiêu dùng cũng tăng lên.

Chất lượng thông tin mà khách hàng vay tiêu dùng cung cấp cho Ngân hàng thường không cao, nhất là những thông tin về tài chính.

Nguồn thu nhập để trả nợ cho ngân hàng ở những khoản vay tiêu dùng thường là nguồn thu nhập cá nhân. Thông tin về thu nhập cá nhân là do khách hàng tự cung cấp cho ngân hàng nên độ chính xác thường không cao.

Nguồn trả nợ cho ngân hàng thường không ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chu kì nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, thu nhập của  khách hàng, trình độ khách hàng, các sự cố bất thường của khách hàng, tư cách khách hàng. Nếu một trong những yếu tố kể trên có những biến động ngược lại với dự đoán của ngân hàng sẽ gây ra rủi ro cho hoạt động tín dụng tiêu dùng. Cơ cấu kinh tế thay đổi, có sự cố xảy ra cho khách hàng… đều tác động đến thu nhập của khách hàng - nguồn trả nợ chính cho Ngân hàng. Riêng về tư cách của khách hàng, nếu Ngân hàng không thẩm định kĩ dẫn đế đánh giá sai lầm về khách hàng, rủi ro mất vốn sẽ rất cao.

Từ những đặc điểm trên của cho vay tiêu dùng, các Ngân hàng có thể căn cứ vào đó để đưa ra những chính sách, sản phẩm cho vay tiêu dùng phù hợp để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.

3. Các loại hình cho vay tiêu dùng

3.1 Căn cứ vào mục đích vay:

a./ Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.

Đây là khoản vay có giá trị lớn, thời hạn cho vay dài và tài sản đảm bảo thường là tài sản hình thành từ vốn vay.

b./Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch… Đây là các khoản cho vay mang tính chất nhỏ lẻ với thời hạn ngắn.

3.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả:

a./ Cho vay tiêu dùng trả góp : Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ ( gồm số tiền gốc và lãi) cho Ngân hàng nhiều lần theo những kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn, thu nhập định kì của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản sau:

* Loại tài sản được trả nợ:

Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, Ngân hàng thường chú ý đến tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu lâu dài đối với khách hàng trong tương lai, thường là những tài sản có nhu cầu sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Đối với những tài sản như vậy, Ngân hàng cho rằng khách hàng sẽ có thiện chí trả nợ tốt hơn vì họ sẽ được hưởng tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.

*Số tiền phải trả trước

Trong cho vay tiêu dùng trả góp, ngân hàng thường yêu cầu người đi vay trả trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm. Phần còn lại Ngân hàng sẽ cho vay.

Việc làm này của ngân hàng có hai mục đích. Thứ nhất: khi để khách hàng tham gia một phần vốn vào tài sản, họ sẽ ý thức được đó chính là tài sản của họ và có ý thức giữ gìn hơn. Thứ hai: trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, Ngân hàng phải thu hồi, phát mại tài sản. Lúc đó, tài sản hình thành từ vốn vay đã qua sử dụng nên giá trị đã bị giảm đi một phần. Do vậy, số tiền trả trước của khách hàng sẽ phần nào giúp ngân hàng hạn chế được thiệt hại trong trường hợp này. Số tiền khách hàng phải trả trước phụ thuộc vào những yếu tố sau:

+ Loại tài sản: Đối với những loại tài sản giảm giá nhanh thì số tiền mà khách hàng phải trả trước sẽ nhiều và ngược lại

+ Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi sử dụng: Nếu tài sản sau khi sử dụng vẫn có thể bán được dễ dàng trên thị trường thì số tiền trả trước sẽ ít và ngược lại, nếu tài sản đã qua sử dụng khó tìm được thị trường tiêu thụ thì số tiền mà khách hàng phải trả trước sẽ nhiều hơn.

+ Năng lực tài chính và tư cách của người vay: nếu người vay được Ngân hàng đánh giá là người có năng lực tài chính tốt và có thiện chí trả nợ cao, số tiền mà khách hàng đó phải trả trước sẽ ít hơn, do khả năng những khách hàng như vậy không trả được nợ hoặc cố tình không trả nợ là rất thấp.

* Chi phí tài trợ:

Chi phí tài trợ là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụng vốn. Chi phái tài trợ này chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có  liên quan. Ngân hàng sử dụng chi phí tài trợ này để bù đắp chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro. Phần còn lại là lợi nhuận của ngân hàng.

*Điều khoản thanh toán

Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng thường chú ý đến những điểm sau:

+ Số tiền thanh toán mỗi định kì phải phù hợp với thu nhập của khách hàng

+ Giá trị cuả tái sản tài trợ không thấp hơn giá trị tài sản chưa được thu hồi.

+ Kì hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng. Thông thường, Ngân hàng thường cho khách hàng trả nợ theo tháng vì thông thường nguồn trả nợ chính của khách hàng là thu nhập hàng tháng từ lương và các khoản phụ cấp khác.

+ Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Thời hạn tài trợ thường bị giới hạn bởi thời hạn hoạt động của tài sản tài trợ, Nếu thời hạn tài trợ quá dài sẽ dễ dẫn đến tình trạng giá trị của tài sản tài trợ bị giảm mạnh, gây rủi ro cho Ngân hàng. Hơn nữa, thời hạn tài trợ càng dài, thiện chí trả nợ của người đi vay cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều khó khăn hơn so với những khoản tài trợ ngắn hạn. Nguyên nhân là do thời hạn càng dài thì càng dễ xảy ra những biến cố bất ngờ mà Ngân hàng không lường trước được.

Số tiền khách hàng phải thanh toán định kì cho ngân hàng thường được tính theo những cách sau:

+ Phương pháp gộp: Phương pháp này thường được áp dụng trong cho vay tiêu dùng trả góp do tính chất đơn giản và dễ hiểu. Theo phương pháp này, lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kì hạn phải thanh toán để tìm số tiền thanh toán định kì. Công thức tính toán như sau:

T=(V+L)/n

Với: L= V * r *n

Trong đó : T: Số tiền phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kì hạn

L: Chi phí tài trợ, gồm lãi vay phải thanh toán và các chi phí khác có liên

quan. Trong trường hợp này, ta giả sử chi phí tài trợ chỉ có lãi vay.

V: Vốn gốc

n: Số kì hạn

r: Lãi suất tính cho mỗi kì hạn

+ Phương pháp lãi đơn: Theo phương pháp này, vốn gốc người đi vay phải trả định kì được tính đều nhau bằng cách lấy số vốn gốc ban đầu chia đều cho số kì hạn thanh toán. Lãi phải trả định kì tính trên dư nợ thực tế của khách hàng.

+ Phương pháp hiện giá: Theo phương pháp này, số tiền gốc và lãi mà khách hàng phải trả được tính theo niên kim cố định. Công thức:

A=[ V(1+i)n*i]/ [(1+i)n-1]

Trong đó: A: Gốc và lãi trả theo niên kim

V: Vốn gốc

i: LãI suất cho vay

n: Số kì hạn trả nợ

*Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời gian:

Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến hành phân bổ lại phần lãi vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kì gắn liền với các kì thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý hay năm tài chính. Tuy nhiên, việc phân bổ lãi cho vay theo năm tài chính thường được các ngân hàng áp dụng nhiều hơn. Các phương pháp phổ biến để phân bổ lãi cho vay bao gồm:

+ Phương pháp đường thẳng hay phương pháp tỷ lệ cố định: Theo phương pháp này, phần lãi cho vay được phân bổ ở mỗi kì tương ứng với tỷ trọng số tháng tính lãi trong kì đó so với toàn bộ số tháng tính lãi của thời hạn vay.

+ Phương pháp tỷ suất lợi tức hiệu dụng: Phương páhp này còn được gọi là phương pháp Quy tắc 78. Tên gọi Quy tắc 78 xuất phát từ kết quả tổng cộng của dãy số từ 1 đến 12 tượng trưng cho 12 kì trả góp của một khoản vay 1+2+3+4+5+6+7+8+9+10+11+12=78. Dù vậy nguyên tắc này vẫn có thể áp dụng cho những khoản vay có kì hạn khác với 12 kì. Đây là phương pháp được Ngân  hàng sử dụng phổ biến nhất trong việc hạch toán phân bổ lãI của các khoản cho vay trả góp.

+ Phương pháp lãi: Theo phương pháp này, trước hết lãi suất cho vay được quy đổi ra thành lãi suất hiệu dụng. Sau đó, lãi suất hiệu dụng này được áp dụng phương pháp hiện giá để tính phần lãi phân bổ cho kì đó.

Trên thực tế, phương pháp tỷ suất lợi tức hiệu dụng và phương pháp lãi được áp dụng để phân bổ lãi đối với các khoản vay trung và dài hạn, còn phương pháp đường thẳng được áp dụng đối với những khoản cho vay ngắn hạn.

*Vấn đề trả nợ trước hạn:

Thông thường, người đi vay được quyền thanh toán tiền vay trước hạn mà không bị phạt. Nếu tiền trả góp được tính theo phương pháp lãi đơn và phương pháp hiện giá thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu và lãi vay của kì hạn hiện tại cho Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tiền trả góp được tính bằng phương pháp gộp thì vấn đề có phức tạp hơn, vì theo phương pháp gộp, lãi được tính dựa trên cơ sở giả định rằng tiền vay sẽ được khách hàng sử dụng cho đến khi kết thúc hợp đồng, cho nên nếu khách hàng trả nợ trước hạn thì thời gian trả nợ thực tế sẽ khác với thời hạn giả định ban đầu và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Trong trường hợp này, Ngân hàng thường áp dụng các phương pháp phân bổ lãi cho vay nói trên để tính số lãi thực sự phải thu dựa trên thời hạn nợ thực tế. Phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp quy tắc 78.

b./ Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Theo phương pháp này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.

c./ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm  được từng kì, khách hàng được Ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kì một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng

Lãi phải trả mỗi kì có thể tính dựa trên một trong 3 cách sau:

+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã đựơc điều chỉnh: theo phương pháp này, số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ của mỗi kì sau khi khách hàng đã thanh toán nợ cho Ngân hàng.

+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi điều chỉnh: Theo phương pháp này, số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ mỗi kì có trước khi khoản nợ được thanh toán.

+ Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân của khách hàng.

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ viết thuê luận văn để giúp mình xóa bỏ những rắc rối về lỗi gây ra khi không sử dụng thành thạo phần mềm này?

Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

3.3. Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ:

3.3.1 Cho vay tiêu dùng gián tiếp:

Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá dịch vụ cho người tiêu dùng.

(1) Thông thường, cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau: hình 1

(2) Ngân hàng và công ty bán lẻ kí kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, Ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại nình tài sản bán chịu…

(3) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng kí kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.

(4) Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng.

(5) Công ty bán lẻ bán chịu bộ chứng từ hàng hoá cho Ngân hàng

(6) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ

(7) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng.

Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:

+ Cho phép Ngân hàng dễ làm tăng doanh số cho vay tiêu dùng

+ Cho phép Ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay.

+ Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác.

+Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, cho vay tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp.

Bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau:

+ Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng.

+ Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hoá.

+ Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.

Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:

+Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này, khi bán cho Ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng mua chịu, công ty bán lẻ sẽ cam kết thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng. Trường hợp này, rủi ro mà công ty bán lẻ phải chịu sẽ nhiều hơn Ngân hàng.

+ Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ mà người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa Ngân hàng và công ty bán lẻ. Với hình thức tài trợ này, rủi ro được chia đều cho cả hai phía: Ngân hàng và công ty bán lẻ.

+ Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không phải chịu trách nhiệm về việc chúng có được hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí tài trợ thường được Ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được kén chọn rất kĩ. Ngoài ra, chỉ những công ty bán lẻ được khách hàng tin tưởng mới được áp dụng phương pháp này.

+ Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện cho vay tiêu dùng gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả được nợ thì ngân hàng phảI thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì Ngân hàng có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản.

3.3.2 Cho vay tiêu dùng trực tiếp:

Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng tiếp xúc trực tiếp và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này.

Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp:

(1) Ngân hàng và người tiêu dùng kí kết hợp đồng vay

(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ

(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ

(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho Ngân hàng.

So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có những ưu điểm sau:

+ Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp, Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng nên các quyết định trực tiếp của cán bộ tín dụng về việc cho vay đối với khách hàng sẽ chính xác hơn các nhân viên của công ty bán lẻ( khi những nhân viên này quyết định bán chịu hàng hoá cho khách hàng). Ngoài ra, trong hoạt động tín dụng, các cán bộ tín dụng thường chú trọng đến việc có được những khoản vay tốt, trong khi các nhân viên bán hàng thường chú trọng đến việc bán được nhiều hàng. Hơn nữa, các quyết định bán chịu hàng hoá thường được đưa ra ngay tại điểm bán hàng, Ngân hàng Công ty bán lẻ

Người tiêu dùng

không có nhiều thời gian xem xét kĩ lưỡng, dẫn đến nhiều khoản tín dụng được cấp một cách vội vàng. Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng, vấn đề này có thể được hạn chế một cách đáng kể.

+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp.

+ Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, ngân hàng có thể mở rộng thêm các mối quan hệ với khách hàng, có cơ hội để tạo ấn tượng tốt cho khách hàng, nâng cao vị thế, hình ảnh của ngân hàng.

Những hạn chế của cho vay tiêu dùng trực tiếp:

+ Ngân hàng khó tăng doanh số cho vay do việc thẩm định khách hàng kĩ càng và khó khăn hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp.

+ Ngân hàng và cán bộ tín dụng sẽ mất nhiều công sức trong việc thẩm định khách hàng, do số lượng khách hàng vay tiêu dùng lớn mà số lượng cán bộ tín dụng thì hạn chế.

+ Cho vay tiêu dùng trực tiêp có chi phí cao nên lãi suất cho vay tiêu dùng trực tiếp thường cao.

* Các hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp:

+ Cho vay trả theo định kì:

Theo phương thức này, khách hàng vay và trả trực tiếp cho ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định khi cho vay. Kì hạn hoàn trả có

thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu của người đI vay, thường là định kì theo tháng.

+Thấu chi:

Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ sở hạn mức tín dụng được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được sử dụng dư nợ trong một giới hạn nhất định trên tài khoản vãng lai và mức dư nợ tối đa bằng với hạn mức tín dụng đã cam kết.

Nghiệp vụ này mang lại nhiều thuận lợi cho khách hàng sử dụng nó. Khách hàng chỉ phảI trả phần tiền của khoản tiền ứng trước đã sử dụng theo mức lãI suất đã thoả thuận. Nó không quy định các đối tượng cho vay là các mặt hàng  cụ thể nào, việc hoàn trả định kì không được thiết lập, khách hàng có thể hoàn trả một số tiền nào đó vào bất kì lúc nào.

*Thẻ tín dụng

Là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho những người có tài khoản, đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng. Mỗi tấm thẻ có một mức tín dụng nhất định, và mức này có thể thay đổi tuỳ theo mức độ tín nhiệm và tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. Nếu chi trả chậm hoặc trả không đúng thời hạn, thẻ có thể bị thu hồi. Khách hàng sẽ bị tính lãI phạt chậm trả rất nặng.

4. Vai trò của cho vay tiêu dùng:

4.1. Xét trên phương diện người tiêu dùng:

a./ Cho vay tiêu dùng giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng hiện tại của người tiêu dùng và khả năng tích luỹ để đáp ứng nhu cầu đó. Khách hàng có nhu cầu tiêu dùng một sản phẩm hay dịch vụ nào đó ngay trong thời điểm hiện tại, nhưng tích luỹ chưa đủ để trang trải chi phí khi thoả mãn nhu cầu đó. Cho vay tiêu dùng giải quyết được vấn đề đó cho khách hàng, giúp khách hàng có thể giải quyết được ngay những nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại mà không cần phải chờ đợi.

b./ Cho vay tiêu dùng giúp cải thiện đời sống dân cư, giúp họ có cuộc sống tiện nghi đầy đủ, tinh thần thoải mái, nâng cao chất lượng cuộc sống.

4.2 Xét trên phương diện Ngân hàng thương mại:

a./ Cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng mở rộng thêm mối quan hệ với khách hàng. Đó là cơ sở để ngân hàng có thể cung cấp thêm nhiều sản phẩm dịch vụ khác, làm tăng thu nhập của ngân hàng. Như chúng ta đã biết, một khách hàng khi đã sử dụng một sản phẩm nào đó của một ngân hàng, nếu thấy hài lòng, họ hoàn toàn có thể sử dụng tiếp những sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng đó một khi có nhu cầu. Khách hàng cho vay tiêu dùng thường có số lượng lớn, do vậy khả năng mở rộng nguồn khách hàng của ngân hàng là rất cao. Thực hiện tốt cho vay tiêu dùng sẽ giúp ngân hàng có thêm được nhiều khách hàng, không chỉ ở riêng  lĩnh vực tín dụng tiêu dùng mà còn ở những sản phẩm dịch vụ khác như huy động vốn, thanh toán quốc tế, bảo lãnh…

b./ Cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy có thể nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.

4.3 Xét trên phương diện Kinh tế-Xã hội

+ Cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, tức là làm cho chi tiêu của dân cư tăng lên, nhu cầu về hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sinh hoạt cũng tăng lên. Khi cầu về tiêu dùng tăng sẽ kích thích sản xuất phát triển, do đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

+ Cho vay tiêu dùng góp phần nâng cao đời sống dân cư, người tiêu dùng được thoả mãn tốt hơn các nhu cầu vật chất, tinh thần, từ đó góp phần làm cho xã hội phát triển lành mạnh hơn. Một xã hội mà người dân có cuộc sống đầy đủ, tiện nghi sẽ phần nào hạn chế những hiện tượng tiêu cực như biểu tình, phản động, mất trật tự trị an- những hiện tượng vốn được coi là đặc trưng của một xã hội bất ổn và lạc hậu.

+ Cho vay tiêu dùng phát triển làm tăng cơ hội làm ăn của các doanh nghiệp. Do được hỗ trợ và khuyến khích, nhu cầu của khách hàng sẽ ngày càng đa dạng phong phú hơn, do đó các nhà sản xuất có cơ sở để đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh đúng đắn, phù hợp với nhu cầu khách hàng, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển bền vững.

5. Nội dung cơ bản của mở rộng cho vay tiêu dùng

5.1 Quan niệm về mở rộng cho vay tiêu dùng:

Trước hết, khi nói về mở rộng cho vay tiêu dùng, ta cần phải xem xét việc mở rộng theo cả hai chiều hướng. Thứ nhất là mở rộng cho vay tiêu dùng theo chiều rộng, nghĩa là nâng quy mô, mở rộng về số lượng các hợp đồng cho vay, các phương thức cho vay tiêu dùng sao cho đa dạng, phong phú. Thứ hai là mở rộng  theo chiều sâu, nghĩa là số lượng phải đi kèm theo chất lượng, Ngân hàng cần nâng cao chât lượng của từng sản phẩm cho vay tiêu dùng. Mỗi một sản phẩm phải thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển và tiềm lực của ngân hàng về quản lý cũng như về trình độ nhân viên, tránh tình trạng mở rộng tràn lan nhưng không quản lý nổi, dẫn đến phát triển sản phẩm không hiệu quả, gây lãng phí công sức và tăng cao rủi ro cho hoạt động kin doanh ngân hàng.

Mở rộng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:

+ Đối với khách hàng: Mở rộng cho vay tiêu dùng có nghĩa là phải thoả mãn được các nhu cầu hợp lý của khách hàng về khối lượng cung cấp, sự đa dạng hoá các hình thức cho vay tiêu dùng cũng như các dịch vụ kèm theo.

+ Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Cho vay tiêu dùng phải góp phần chuyển dịch một khối lượng lớn các nguồn tài chính, trợ giúp ngân sách nhà nước cũng như tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần cải thiện đời sống dân cư.

+ Đối với các ngân hàng thương mại: Cho vay tiêu dùng cần phải chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh việc mở rộng cho vay, ngân hàng cũng cần chú ý đến chất lượng của khoản vay, sao cho đảm bảo mở rộng gắn với cho vay tiêu dùng chất lượng cao.

5.2 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng cho vay tiêu dùng

5.2.1 Chỉ tiêu phản ánh doanh số cho vay tiêu dùng

Doanh số cho vay tiêu dùng : Là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay tiêu dùng trong kì, nó phản ánh một cách khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng trong một thời kì nhất định, thường tính theo năm tài chính.

*Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số cho vay tiêu dùng tuyệt đối:

Giá trị tăng trưởng = Tổng doanh số + Tổng doanh số doanh số tuyệt đối CVTD năm t CVTD năm (t-1)

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số cho vay tiêu dùng năm (t) so với năm (t1) về số tuyệt đối là bao nhiêu. Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền mà ngân hàng cấp cho khách hàng cũng tăng lên, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng, từ đó nó cũng thể hiện rằng, hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đã được mở rộng.

* Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số cho vay tiêu dùng tương đối:

Giá trị tăng trưởng = Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối x 100%

Doanh số tương đối Tổng doanh số CVTD năm (t-1)

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay tiêu dùng năm (t) so với năm (t-1). Khi chỉ tiêu này tăng lên, nó thể hiện rằng doanh số cho vay tiêu dùng qua các năm của ngân hàng đã tăng lên về số tương đối.

* Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỉ trọng:

Tổng doanh số cho vay tiêu dùng x 100%

Tỷ trọng = Tổng doanh số về hoạt động cho vay

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số của hoạt động cho vay tiêu dùng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng doanh số của hoạt động cho vay của ngân hàng. Khi tỷ trọng của cho vay tiêu dùng tăng lên qua các năm, chứng tỏ rằng tỷ lệ của cho vay tiêu dùng trong hoạt động cho vay đã tăng lên và nó cũng cho thấy rằng hoạt động cho vay tiêu dùng đã được mở rộng.

5.2.2 Chỉ tiêu phản ánh dư nợ cho vay tiêu dùng

Dư nợ cho vay tiêu dùng: Là số tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng tại một thời điểm. Chỉ tiêu này thường được sử dụng kết hợp với chỉ tiêu doanh số cho vay tiêu dùng nhằm phản ánh tình hình mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng.

Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng dư nợ tuyệt đối:

Giá trị tăng trưởng = tổng dư nợ CVTD - Tổng dư nợ CVTD

Dư nợ tuyệt đối năm (t) năm (t-1)

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ năm (t) tăng so với năm (t-1) về số tuyệt đối là bao nhiêu. Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền mà khách hàng đang nợ ngân  hàng qua các năm đã tăng lên, chứng tỏ rằng hoạt động cho vay tiêu dùng đã được mở rộng.

Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng dư nợ tương đối:

Giá trị tăng trưởng = Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối x 100%

Dư nợ CVTD tương đối Tổng dư nợ CVTD năm (t-1)

Giá trị tăng trưởng dư nợ CVTD tương đối =

Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối x 100

Tổng dư nợ CVTD năm (t-1)

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng năm

(t) so với năm (t-1)

Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng:

Tỷ trọng =

Tổng dư nợ CVTD x 100%

Tổng dư nợ của hoạt động cho vay của ngân hàng

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ của hoạt động cho vay tiêu dùng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng dư nợ của toàn bộ hoạt động cho vay của ngân hàng

Chỉ tiêu phản ánh dư nợ về loại hình cho vay tiêu dùng mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, đó là các loại hình như:

+ Cho vay mua ô tô

+ Sửa chữa, xây dựng nhà cửa

+ Cho vay hỗ trợ du học

+ Cho vay mua đồ dùng sinh hoạt gia đình như: Máy tính xách tay, điều hòa, tủ lạnh…

Những loại hình cho vay tiêu dùng phản ánh khả năng mở rộng quy mô cũng như phạm vi hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Nó phản ánh sự đa dạng về cách thức mà ngân hàng cung cấp dịch vụ cho vay tiêu dùng, qua đó phản ánh khả năng nắm bắt nhu cầu khách hàng của ngân hàng. Khi loại hình cho vay này được mở rộng thì sẽ thoả mãn tốt hơn nhu cầu, mong muốn đa dạng của khách hàng,  qua đó cũng thể hiện hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đang ngày càng được mở rộng.

6. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay tiêu dùng:

6.1 Các nhân tố khách quan:

a./ Môi trường vĩ mô:

* Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.

_ Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng, mức sống của người dân được nâng cao, thu nhập cao hơn và ổn định, do đó nhu cầu về tiêu dùng của dân cư cũng trở nên phong phú và đa dạng hơn, do vậy , tạo điều kiện cho hoạt động cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại phát triển.

Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập của dân cư giảm xuống làm cho nhu cầu chi tiêu cũng giảm và như vậy hoạt động mở rộng cho vay tiêu dùng cũng gặp nhiều khó khăn hơn.

_ Lãi suất: Khi lãi suất trên thị trường tăng lên thì lãi suất cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại cũng tăng cao, làm chi phí về mua sắm tăng lên, nhu cầu chi tiêu của dân cư giảm , ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng.

_ Lạm phát: Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá. Lúc này người dân không còn thích gửi tiền vào ngân hàng. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng gặp khó khăn, ảnh hưởng xấu đến hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng.

* Môi trường Chính trị-Pháp luật

_ Chính trị: Môi trường chính trị ổn định, không xảy ra xung đột, đảo chính hay nội chiến sẽ tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn, tạo lòng tin cho nhân dân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thương mại mở rộng kinh doanh trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.

_ Pháp luật: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu tác động của rất nhiều các văn bản quy định của nhà nước như Luật các tổ chức tín dụng, luật dân  sự… Nếu các văn bản, quy định không rõ ràng chặt chẽ, không đồng bộ sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng. Bên cạnh đó, pháp luật thiếu tính chặt ché đồng bộ cũng gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp. Trong môi trường pháp luật như vậy, các doanh nghiệp sẽ không yên tâm làm ăn, cắt giảm đầu tư làm nền kinh tế kém phát triển, thu nhập của dân cư giảm làm giảm nhu cầu chi tiêu, dẫn đến hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, môI trường pháp luật dồng bộ, chặt chẽ, rõ ràng sẽ khuyến khích các nhà đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và tăng nhu cầu tiêu dùng của dân cư.

* Môi trường văn hoá xã hội:

_ Thói quen tiêu dùng: Có ảnh hưởng rất lớn đến cho vay tiêu dùng, đặc biệt là quyết định của người tiêu dùng. Những thói quen của người dân như tiêu tiền mặt, không quen thanh toán qua thẻ hay vào siêu thị sẽ ảnh hưởng rất lớn tớisự phát triển của các loại hình cho vay tiêu dùng của ngân hàng.

_ Trình độ dân trí: Trình độ dân trí của người dân Việt Nam còn tương đối thấp. Đây cũng là một trở ngại lớn cho việc mở rộng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hiện tại, cho vay tiêu dùng ở nước ta mới chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, nơI mà người dân có trình độ dân trí tương đối cao, còn ở nông thôn thì hầu như không có cho vay tiêu dùng.

*Môi trường công nghệ

Môi trường công nghệ bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến công nghệ mới, thiết kế sản phẩm mới và cơ hội thị trường mới. Đây được coi là yếu tố nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại. Vì vậy các ngân hàng phảI nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là trong hoạt động cho vay tiêu dùng như công nghệ thẻ, hệ thống máy tính, các phần mềm xử lý nghiệp vụ. .. để giúp ngân hàng giả quyết công việc nhanh chóng, an toàn, hiệu quả.

b./ Môi trường vi mô:

* Đối thủ cạnh tranh:

_ Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Là những tổ chức tài chính hoạt động trong cùng lĩnh vực, cùng chia sẻ lợi nhuận với ngân hàng như: các ngân hàng khác, các công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân. … Các tổ chức tài chính luôn ghanh đua và dùng mọi biện pháp để tạo lợi thế cạnh tranh, xâm nhập thị phần của nhau. Các đối thủ luôn đa dạng hoá kinh doanh, tung sản phẩm mới, các hình thức cho vay tiêu dùng mới để thu hút khách hàng, tạo ra môi trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt.

_ Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Là các tổ chức tài chính sắp hình thành, hoạt động trong cùng lĩnh vực ngân hàng, như các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài hay các ngân hàng thương mại cổ phần sắp thành lập…Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có những lợi thế của người đi sau là tránh được những sai lầm mà các ngân hàng đi trước đã mắc phải, do đó cũng góp phần làm cho môI trường cạnh tranh gay gắt hơn.

*Khách hàng:

_ Tư cách đạo đức của khách hàng: Thể hiện thiện chí trả nợ của khách hàng. Khi khách hàng có khả năng tài chính tốt nhưng không có thiện chí trả nợ thì ngân hàng cũng khó lòng thu hồi được các khoản cho vay. Khi đó rủi ro mà hoạt động cho vay tiêu dùng mang lại cho ngân hàng sẽ rất cao, các ngân hàng khó lòng mở rộng cho vay tiêu dùng.

_ Khả năng tài chính của khách hàng: Khả năng tài chính của khách hàng quyết định đến khả năng trả nợ tiền vay cho ngân hàng. Một khách hàng có khả năng tài chính tốt sẽ đảm bảo cho khoản cho vay của ngân hàng được an toàn, do khả năng thu hồi nợ cao. Vì vậy, trong cho vay tiêu dùng, ngân hàng luôn quan tâm đến khả năng tài chính của khách hàng, mức thu nhập, sự ổn định của thu nhập… và nó ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng.

6.2 Các nhân tố chủ quan:

6.2.1 Nguồn lực về tài chính:

* Vốn tự có: Là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được và thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng có vai trò hết sức quan trọng. Nó được xem như một cáI đệm để  chống đỡ sự giảm giá trị tài sản Có của ngân hàng- có thể đấy ngân hàng tới tình trạng thiếu khả năng chi trả và phá sản. Nó quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng cũng như góp phần làm tăng lòng tin, hình ảnh, uy tín của ngân hàng với khách hàng. Như vậy, việc huy động vốn của ngân hàng sẽ tốt hơn, tạo nguồn vốn cho vay tiêu dùng nhiều hơn và ngược lại.

* Khả năng huy động vốn: Khi quy mô huy động vốn lớn, ngân hàng có khả năng cho vay ra càng nhiều. Nếu chi phí huy động vốn thấp thì ngân hàng sẽ có điều kiện cho khách hàng vay với mức lãI suất cạnh tranh. Điều này tạo thuận lợi cho mở rộng tín dụng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng.

6.2.2 Quy trình, thủ tục cấp tín dụng

Quy trình, thủ tục cấp tín dụng của ngân hàng cũng ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay của các ngân hàng. Khi một ngân hàng có thủ tục cấp tín dụng nhanh gọn, không gây phiền hà cho khách hàng thì hoạt động cho vay sẽ phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, các ngân hàng không thể vì thế mà cắt giảm những thủ tục quan trọng, có liên hệ mật thiết đến việc đánh giá rủi ro của khoản vay, vì như vậy là gián tiếp làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng.

6.2.3 Trình độ của cán bộ tín dụng

Cán bộ tín dụng là người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, thẩm định khách hàng. Do vậy có thể nói cán bộ tín dụng chính là bộ mặt của ngân hàng. Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, năng động, nhiệt tình sẽ nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng, tạo được hình ảnh, uy tín cho ngân hàng, giúp ngân hàng thành công trong kinh doanh cũng như mở rộng cho cho vay tiêu dùng thuận lợi hơn.

6.2.4 Chính sách tín dụng của ngân hàng

Nếu ngân hàng có chính sách tín dụng mở rộng, tăng cho vay, chấp nhận rủi ro để đạt được lợi nhuận cao hơn thì sẽ thuận lợi cho việc mở rộng cho vay tiêu dùng.

Tuy nhiên ngân hàng cũng cần chú ý đến chất lượng của hoạt động cho vay. Nếu ngân hàng có chính sách tín dụng thắt chặt, đặt mục tiêu an toàn cao hơn lợi nhuận thì việc mở rộng cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng sẽ gặp khó khăn hơn.

6.2.5 Các nhân tố khác:

Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động cho vay cũng có ảnh hưởng sâu sắc tới việc thu hút khách hàng cũng như tới mục tiêu mở rộng cho vay tiêu dùng.

Với một cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến, phù hợp sẽ đáp ứng kịp thời các nhu cầu của khách hàng, tạo sự thuận tiện, thoải mái trong giao dịch. Bên cạnh đó đẩy mạnh công tác Marketing trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, xây dựng một hệ thống thu thập và xử lý thông tin về khách hàng, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động điều tra và thẩm định khách hàng, từ đó giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng hơn.

7. Quy trình cho vay tiêu dùng

Qui trình cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân

Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi CBTD tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán – thanh lý hợp đồng tín dụng.

Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng. Cán bộ tín dụng phải tiến hành thẩm định, trình duyệt và phê duyệt và thông báo việc phê duyệt/không phê duyệt với khách hàng trong thời gian sớm nhất có thể nhưng không quá 10 ngày.

Trường hợp phức tạp có thể kéo dài theo sự thoả thuận với khách hàng.

Quy trình cho vay gồm các bước sau :

B1 Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về lập hồ sơ vay vốn.

B2 Thẩm định các điều kiện vay vốn

B3 Xác định phương thức cho vay

B4 Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện vay vốn và lãi suất cho vay của ngân hàng.

B5 Lập tờ trình thẩm định cho vay

B6 Tái thẩm định cho vay

B7 Trình duyệt khoản vay

B8 Ký kết hợp đồng tín dụng/sổ vay vốn, hợp đồng bảo đảm tiền vay, giao nhận giấy tờ và TSĐB

B9 Giải ngân

B10 Kiểm tra, giám sát khoản vay

B11 Thu nợ lãi và gốc và xử lý những phát sinh

B12 Thanh lý hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay

B13 Giải chấp TSĐB

B14 Lưu giữ hồ sơ tín dụng và hồ sơ đảm bảo tiền vay

8. Những lưu ý khi vay tiêu dùng cá nhân

8.1 Chuẩn bị hồ sơ vay đầy đủ

Tuy đây là bước đơn giản nhưng khá nhiều người mắc phải những sai lầm ở bước này. Có trường hợp mang theo bản photo nhưng không mang bản gốc để đối chứng. Trường hợp khác giấy tờ chứng minh thu nhập đã rất lâu không đúng quy định ngân hàng…Nếu nhân viên tư vấn không rõ ràng sẽ dẫn đến nhiều sai lệch trong thông tin, làm mất thời gian.

8.2 Chọn thời hạn vay phù hợp

Theo các chuyên gia, người đi vay nếu có mức thu nhập thấp nên kéo dài thời hạn vay. Chỉ có cách này mới có thể làm giảm số tiền gốc mỗi tháng cần trả cho ngân hàng.

8.3 Ước lượng sức vay

Số tiền cần trả nợ chỉ nên chiếm 30-40% trong tổng số thu nhập hàng tháng. Nếu không, bạn sẽ phải chịu nhiều áp lực từ việc trả nợ vay. Vì vậy, bài toán cân đối ngân sách và khả năng trả nợ cần được tính toán thật kỹ. Bạn cần lên kế hoạch trả nợ hợp lý để tránh rơi vào danh sách nợ xấu CIC của ngân hàng.

Nguyễn Tuyết Anh Tôi là Nguyễn Tuyết Anh - Job title: Trưởng phòng nội dung - Company: Luanvan1080 Group. Công việc của tôi là Chuyên thu thập, quản lý và sản xuất nội dung thông tin dưới bất kỳ dạng nào, tư vấn các vấn đề luận văn cho khách hàng qua tổng đài tư vấn, soạn thảo các hồ sơ, dịch vụ làm luận văn cho khách hàng. Bạn hãy tham khảo website https://luanvan1080.com/ để rõ hơn công việc của tôi nhé !
Bình luận đánh giá
Đánh giá

TTrần Đình Hoàng

Cho e xin mấy mẫu luận văn về đề tài " Cơ sở cho vay tiêu dùng của ngân hàng " để tham khảo với ạ. E xin cảm ơn.

Trả lời1 day ago

Thông tin bình luận

CChu Quỳnh Hoa

Cho e xin vài mẫu luận văn về đề tài Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại với ạ

Trả lời2 weeks ago

Thông tin bình luận

Zalo: 096.999.1080