Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái hiện nay

Tran Ha
Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái hiện nay
4.5 (90%) 2 votes

Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái

1. Lạm phát

Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền có nghĩa là mức giá chung của đồng nội tệ sẽ thay đổi tương đối so với mức giá chung của các đồng ngoại tệ khác. Nó tác động tới tỷ giá trong dài hạn,theo lý thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá hai đồng tiền phải biến động  để phản ánh tương quan lạm phát giữa 2 đồng tiền theo công thức:

∆E = (∆P – ∆P*)/(1 + ∆P*)

∆E là  tỷ lệ % thay đổi của tỷ giá sau một năm;

∆P là tỷ lệ lạm phát/năm trong nước;

∆P* là tỷ lệ lạm phát/năm ở nước ngoài;

Vì  ∆P và ∆P*  là tỷ lệ lạm phát nên thường ít thay đổi trong ngắn hạn, và chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn, chính vì vậy, tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn.

Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái hiện nay

Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái hiện nay

Tham khảo thêm các bài viết sau:

+ Vai trò của tỷ giá hối đoái

+ Chính sách tỷ giá

+ Chính sách tỷ giá hối đoái ở việt nam hiện nay

Có nghĩa là khi giá hàng Việt tăng (giá hàng ngoại không đổi) thì cầu về hàng Việt giảm xuống. Điều này sẽ làm giảm lượng hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ và giảm số lượng tiền đồng mà các nhà nhập khẩu Mỹ có nhu cầu (lượng USD cung ra để đổi thành tiền Việt giảm)

Khi đó xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam có mức giá tính bằng tiền đồng không thay đổi trong khi giá hàng Việt Nam bán ở trong nước tăng lên do lạm phát. Như vậy hàng Mỹ sẽ trở nên hấp dẫn hơn so với hàng Việt Nam (bởi vì chúng trở nên rẻ hơn một cách tương đối) và người Việt Nam sẽ sẵn sàng mua nhiều hàng Mỹ hơn. Dẫn đến cầu USD tăng => tỷ giá tăng => đồng Việt Nam mất giá.

Tuy nhiên khi lạm phát giống nhau ở cả 2 nước sẽ không ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái cân bằng.

Về lâu dài, một sự tăng lên mức giá của một nước (tương đối so với mức giá nước ngoài) làm cho đồng tiền của nước đó giảm giá, trong khi một sự giảm xuống của mức giá tương đối của một nước làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá.

Xem thêm:  khái niệm lạm phát là gì để có thể năm rõ hơn

2.Thuế quan và hạn ngạch

a, Thuế quan và hạn ngạch (QUOTA) trong nước:

Nếu một quốc gia tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm cho lượng hàng hóa nhập khẩu vào vào nước đó giảm, giá hàng nhập khẩu tăng. Cho nên cầu về hàng ngoại nhập giảm => cầu ngoại tệ giảm => tỷ giá giảm => đồng nội tệ lên giá.

Ngược lại nếu một quốc gia giảm mức thuế quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm cho lượng hàng hóa nhập khẩu vào nước đó tăng, giá hàng nhập khẩu giảm => cầu hàng ngoại tăng => cầu ngoại tệ tăng => tỷ giá tăng => đồng nội tệ giảm giá.

Mặc dù, thuế quan và hạn ngạch tác động tới tỷ giá là cùng chiều nhưng thuế quan tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng; trong khi đó hạn ngạch tạo ra sự phân biệt đối xử, môi trường cạnh tranh không bình đẳng, là nguyên nhân chính tạo ra khe hở trong quản lý và môi trường cho tiêu cực.

b, Thuế quan và hạn ngạch (QUOTA) ở nước ngoài:

Nếu nước ngoài (Mỹ) tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu vào nước này thì làm tăng giá của hàng hóa đó => nhu cầu về hàng nhập khẩu tại Mỹ giảm => nhu cầu đổi tiền từ đồng ngoại tệ ( USD) sang đồng nội tệ của nước XK giảm làm cho cung ngoại tệ tại nước XK giảm => tỷ giá tại nước này tăng => đồng nội tệ mất giá.

Ngược lại nếu một quốc gia giảm mức thuế quan hoặc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu  thì làm giảm giá của hàng nhập khẩu => nhu cầu đổi tiền từ đồng ngoại tệ ( USD) sang đồng tiền nước xuất khẩu  tăng cho nên cung ngoại tệ tại nước XK tăng => tỷ giá tại nước đó tăng => đồng nội tệ lên giá.

Giả dụ: Việt Nam áp đặt một loại thuế hoặc hạn ngạch đối với ô tô của Nhật những hàng rào này làm tăng cầu về ô tô Việt Nam, và đồng Việt Nam có xu hướng tăng giá.

Thuế quan và hạn ngạch về lâu dài làm cho đồng tiền của một nước tăng giá.

3.Thu nhập

a, Thu nhập (thực) của người cư trú và người không cư trú:

Thu nhập của người cư trú tăng tương đối so với thu nhập của người không cư trú thì kích thích nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào trong nước => nhập khẩu ròng tăng => làm tăng cầu ngoại tệ => tỷ giá tăng => đồng nội tệ mất giá.

Ngược lại, thu nhập của người không cư trú tăng tương đối so với thu nhập của người cư trú thì kích thích xuất khẩu hàng hóa trong nước ra nước ngoài => xuất khẩu ròng tăng => làm giảm cầu ngoại tệ =>tỷ giá giảm => đồng nội tệ lên giá.

b, Các khoản thu và các khoản chi của người không cư trú:

Các khoản thu và chi đối với người không cư trú trong cán cân chuyển giao như từ thiện, biếu tặng, kiều hối…

Các khoản thu từ người không cư trú được ghi (+) lớn hơn các khoản chi cho người không cư trú ghi (-) => cán cân chuyển giao ròng dương => làm tăng cung ngoại tê => tỷ giá giảm => đồng nội tệ lên giá.

Ngược lại, các khoản thu từ người không cư trú được ghi (+) nhỏ hơn các khoản chi cho người không cư trú ghi(-) => cán cân chuyển giao ròng âm => làm tăng cung ngoại tê =>tỷ giá giảm => đồng nội tệ lên giá.

c.Thu nhập từ người nước ngoài:

Nhân tố quyết định đến thu nhập từ người lao động nước ngoài là số lương, mức lương và tỷ lệ tiết kiệm của họ.

Nhân tố quyết định đến thu nhập từ đầu tư nước ngoài đó là giá trị đầu tư ở nước ngoài trước đo và tỷ lệ sinh lời của đâuh tư.

Khi thu từ người lao động và đầu tư nước ngoài lớn hơn chi => cán cân thu nhập ròng dương => tăng cung ngoại tệ => tỷ giá giảm => đồng nội tệ lên giá.

Ngược lại, khi thu từ người lao động và đầu tư nước ngoài nhỏ hơn chi => cán cân thu nhập ròng âm => tăng cầu ngoại tệ => tỷ giá tăng => đồng nội tệ mất giá.

4. Lãi suất

Tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền tác động ngắn hạn đến tỷ giá.

Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản ánh tương quan lãi suất giữa  chúng, theo công thức:

∆E = (R – R*)/(1 + R*) x 100%

Trong đó:

∆E: tỷ lệ % thay đổi tỷ giá sau một năm,

R : mức lãi suất/năm của nội tệ;

R*: mức lãi suất/năm của ngoại tệ.

Vì R và R* là mức lãi suất nên tần số thay đổi phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHTW.

Các luồng tiền sẽ chảy từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao theo nguyên lý nước chảy chỗ trũng. Khi mặt bằng lãi suất của Việt Nam cao hơn so với thị trường quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển tiền vào Việt Nam để thu được lãi lớn hơn, làm tăng cung ngoại tệ. Điều này đẩy đường cung ngọai tệ dịch chuyển sang phải, kết quả là đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ. Điều này diễn ra ngược lại khi mặt bằng lãi suất Việt Nam thấp hơn thị trường bên ngoài.

Trong nền kinh tế tiền tệ, NHTW thường xuyên thay đổi lãi suất để tác động tích cực lên nền kinh tế, tần số thay đổi lãi suất càng nhiều làm tỷ giá biến động càng nhanh, chính vì vậy, tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong ngắn hạn.

5. Sự vận động của luồng vốn quốc tế

Giả sử, khi Việt Nam tăng cường đầu tư vào Mỹ hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, cầu về tiền của quốc gia đó sẽ tăng. Nói cách khác, nhu cầu này làm đường cầu ngoại tệ dịch chuyển sang phải, khi đó đồng đô la (ngoại tệ khác) sẽ lên giá so với tiền đồng.

Ngược lại, khi Mỹ hoặc các quốc gia khác muốn đầu tư vào Việt Nam, họ sẽ cung ngoại tệ để đổi lấy tiền đồng, làm cung ngoại tệ tăng và đường cung dịch sang phải, đồng đô la (ngoại tệ khác) sẽ giảm giá so với đồng Việt Nam.

6. Những dự tính về sự biến động của tỷ giá

Khi người Việt Nam tin tưởng rằng trong tương lai, những ngoại tệ như USD, EUR… sẽ tăng giá so với tiền đồng, thì trong hiện tại, họ sẽ muốn giữ những ngoại tệ đó nhiều hơn. Bằng cách đó, khi kỳ vọng của họ xảy ra trong tương lai, họ sẽ thu về một khoảng bằng chênh lệch tỷ giá nhân với số lượng ngoại tệ nắm giữ.

Nếu mọi người đều có cùng nhận thức và quyết định như vậy, nhu cầu ngoại tệ trong hiện tại sẽ được đẩy lên cao, làm đường cầu ngoại tệ dịch sang phải. Kết quả là đồng ngoại tệ sẽ tăng giá một cách tương đối so với tiền Việt Nam. Ngược lại, nếu mọi người cho rằng việc giữ tiền đồng có lợi hơn, thì việc sở hữu ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn và cầu ngoại tệ đi xuống, khiến cho đồng ngoại tệ sẽ giảm giá so với đồng Việt Nam ngay trong hiện tại.

Ngoài ra những yếu tố quyết định về dài hạn của tỷ giá chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến  tỷ giá tương lai dự tính: mức giá cả tương đối, thuế quan tương đối và quota, năng suất lao động.

7. Giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu:

Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu tạo ra sự biến động của cung cầu ngoại tệ.

Gọi x là giá thế giới của hàng xuất khẩu, y là giá thế giới của hàng nhập khẩu.

– Trường hợp 1: x giảm hoặc y tăng thì cung ngoại tệ giảm, cầu ngoại tệ tăng=> tỷ  giá hối đoái tăng, đồng nội tệ giảm giá.

Sự tăng giá của hàng xuất khẩu:

Khi giá của dệt may xuất khẩu tăng lên (trong điều kiện nhiều nước khác cũng có bán sản phẩm tương tự trên thị trường Mỹ) thì người Mỹ sẽ chi ít tiền hơn để mua hàng dệt may Việt Nam. Do đó sẽ có ít đồng USD được cung ứng để chuyển sang tiền đồng Việt Nam. Cho nên cung USD sẽ giảm => tỷ giá tăng => đồng Việt Nam giảm giá.

– Trường hợp 2: x tăng hoặc y giảm thì cung ngoại tệ tăng, cầu ngoại tệ giảm=> tỷ giá hối đoái giảm, đồng nội tệ lên giá.

Sự tăng giá quốc tế của hàng nhập khẩu:

Khi giá của hàng điện tử Mỹ tăng lên ( trong điều kiện có nhiều nước khác cũng có sản phẩm tương tự) thì người Việt sẽ cần ít đồng USD hơn so với trước đây để mua hàng điện tử Mỹ. Cho nên cầu USD sẽ giảm => tỷ giá giảm => đồng Việt Nam tăng giá.

8. Các nhóm nhân tố khác

a, Tâm lý ưa thích hàng ngoại:

Tâm lý này kích thích nhập khẩu => cầu ngoại tệ tăng =>  tỷ giá tăng => đồng nội tệ mất giá.

Giả dụ: người Việt Nam thích hàng hóa của Nhật thì cầu về hàng hóa của Nhật tăng lên => cầu Yên Nhật (YJP) tăng => tỷ giá tăng => đồng VN mất giá.

Cầu đối với hàng xuất khẩu của một nước tăng về lâu dài làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá trong khi cầu về hàng nhập khẩu tăng lên lam cho đồng tiền của nước đó giảm giá.

b, Năng suất lao động:

Nếu năng suất lao động của một nước tăng cao hơn nước khác thì những nhà kinh doanh trong nước đó có thể hạ giá tương đối hàng nội so với hàng ngoại mà vẫn thu được lãi. => cầu về hàng nội tăng lên => đồng nội tệ tăng giá.

Nếu năng suất lao động của nước đó kém hơn nước khác thì hàng hóa nước đó trở thành tương đói đát hơn =>cầu về hàng nội giảm =>đồng nội tệ mất giá.

Về lâu dài do năng suất lao động của một nước cao hơn so với nước khác nên đồng tiền của nước đó tăng giá.

c, Cú shock chính trị, kinh tế, xã hội:

Khi những cú shock này xảy ra tại 1 quốc gia, nó khiến cho tâm lý những người đang nắm giữ tiền của quốc gia đó trở nên bất ổn, không yên tâm về khả năng sinh lời của đồng tiền, thậm chí lo sợ cho sự mất giá của nó. Điều này buộc họ chuyển hướng đầu tư sang những đồng tiền ổn định hơn, làm cho cầu về loại tiền đó tăng lên, từ đó tác động ngay đến tỷ giá.

d, Sự can thiệp của Ngân Hàng TW:

Mua ngoại tệ làm tăng cầu ngoại tệ, làm tăng tỷ giá; bán ngoại tệ làm tăng cung ngoại tệ, giảm tỷ giá;

Thay đổi lãi suất tái chiết khấu, từ đó tác động đến mặt bằng lãi suất thị trường, chuyển hướng các luồng tiền và do đó làm thay đổi tỷ giá; điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, ảnh hưởng đến lượng cung ngoại tệ trên thị trường…

Trên đây là Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái. Nhà quản lý cần phải tìm được nhân tố nào tác động mạnh nhất đến tỷ giá hối đoái để xử lý đúng đắn.

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ :

Nhận làm luận văn thạc sĩ

Nhận viết assignment

Dịch vụ chạy spss

Viết essay

Viết tiểu luận thuê

Làm chuyên đề tốt nghiệp

chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!